Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Pāli » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Minh Châu

Kinh Văn

KINH GANAKA MOGGALLÀNA

Ganakamoggallàna sutta

(Trình bày lộ trình huấn luyện tuần tự (giới–hộ trì căn–chánh niệm–thiền định–tuệ); giải thích vì sao có người "được chỉ đường" vẫn không đến đích)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Minh Châu

Thuộc bộ: , Trung Bộ Kinh, Nikaya, (107)

Ngôn ngữ: Pāli

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Nội Dung:
Kinh Ganaka Moggallàna


Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Savatthi, Pubbarama, nơi lâu đài của Migaramatu (Ðông Viên Lộc Mẫu Giảng đường). Rồi Bà-la-môn Ganaka Moggallana đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:

-- Ví như, thưa Tôn giả Gotama, tại lâu đài Migaramatu này, có thể thấy được một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là những tầng cấp của lầu thượng cuối cùng; thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị Bà-la-môn này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là sự học hỏi (các tập Veda). Thưa Tôn giả Gotama, cũng vậy, đối với những vị bắn cung này, được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là nghệ thuật bắn cung. Cũng vậy, thưa Tôn giả Gotama, đối với chúng con là những người toán số, sống nhờ nghề toán số, cũng được thấy một học tập tuần tự, một công trình tuần tự, một đạo lộ tuần tự, tức là toán số. Thưa Tôn giả Gotama, vì rằng khi có được người đệ tử, trước hết chúng con bắt người ấy đếm như sau: "Một, một lần, hai, hai lần, ba, ba lần, bốn, bốn lần, năm, năm lần, sáu, sáu lần, bảy, bảy lần, tám, tám lần, chín, chín lần, mười, mười lần". Và thưa Tôn giả Gotama, chúng con bắt đếm tới một trăm. Có thể trình bày chăng, thưa Tôn giả Gotama, trong Pháp và Luật này, cũng có một tuần tự học tập, một tuần tự công trình, một tuần tự đạo lộ như vậy?

-- Có thể trình bày, này Bà-la-môn, trong Pháp và Luật này, có một tuần tự học tập, có một tuần tự công trình, có một tuần tự đạo lộ. Ví như, này Bà-la-môn, một người huấn luyện ngựa thiện xảo, sau khi được một con ngựa hiền thiện, trước tiên luyện tập cho nó quen mang dây cương, rồi tập luyện cho nó quen các hạnh khác; cũng vậy, này Bà-la-môn, Như Lai khi được một người đáng được điều phục, trước tiên huấn luyện người ấy như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy giữ giới hạnh, hãy sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới".

Này Bà-la-môn, khi vị Tỷ-kheo giữ giới hạnh, chế ngự với sự chế ngự của giới bổn, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ trì và học tập các học giới, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy hộ trì các căn, khi mắt thấy sắc chớ có nắm giữ tướng chung, chớ có nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì nhãn căn không được chế ngự khiến tham ái, ưu bi, các ác bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. Khi tai nghe tiếng.... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị.. thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì, vì ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các pháp ác bất thiện khởi lên, Tỷ-kheo chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn".

Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo hộ trì các căn rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy tiết độ trong ăn uống, chơn chánh giác sát thọ dụng món ăn, không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, chỉ để thân này được duy trì, được bảo dưỡng, khỏi bị gia hại, để chấp trì Phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới; và ta sẽ không phạm lỗi lầm, sống được an ổn".

Này Bà-la-môn, sau khi Tỷ-kheo tiết độ trong ăn uống rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy chú tâm cảnh giác! Ban ngày trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh đầu, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp; ban đêm trong canh giữa, hãy nằm xuống phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, chân gác trên chân với nhau, chánh niệm tỉnh giác, hướng niệm đến lúc ngồi dậy lại. Ban đêm trong canh cuối, khi đã thức dậy, trong khi đi kinh hành và trong khi đang ngồi, gột sạch tâm trí khỏi các chướng ngại pháp".

Này, Bà-la-môn, sau khi vị Tỷ-kheo chú tâm tỉnh giác, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm nữa như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy thành tựu chánh niệm tỉnh giác, khi đi tới khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nuốt, đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, yên lặng đều tỉnh giác".

Này Bà-la-môn, sau khi chánh niệm tỉnh giác rồi, Như Lai mới huấn luyện vị ấy thêm như sau: "Hãy đến Tỷ-kheo, hãy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm".

Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như rừng, gốc cây, khe núi, hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài trời, đống rơm. Sau khi đi khất thực về và ăn xong, vị ấy ngồi kiết-già, lưng thẳng tại chỗ nói trên và an trú chánh niệm trước mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, sống với tâm thoát ly tham ái, gột rửa tâm hết tham ái. Từ bỏ sân hận, vị ấy sống với tâm không sân hận, lòng từ mẫn thương xót tất cả chúng hữu tình, gột rửa tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm thụy miên, vị ấy sống thoát ly hôn trầm thụy miên, với tâm tưởng hướng về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác, gột rửa tâm hết hôn trầm thụy miên; từ bỏ trạo cử hối tiếc, vị ấy sống không trạo cử, nội tâm trầm lặng, gột rửa tâm hết trạo cử hối tiếc; từ bỏ nghi ngờ, vị ấy sống thoát khỏi nghi ngờ, không phân vân lưỡng lự, gột rửa tâm hết nghi ngờ đối với các thiện pháp.

Khi đoạn trừ năm triền cái ấy, những pháp làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ yếu ớt, vị ấy ly dục, ly bất thiện pháp chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, với tầm với tứ. Vị ấy diệt tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Vị ấy ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú Thiền thứ ba. Xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.

Này Bà-la-môn, đối với những Tỷ-kheo nào là bậc hữu học, tâm chưa thành tựu, đang sống cần cầu sự vô thượng an tịnh các triền ách, đó là sự giảng dạy của Ta như vậy đối với những vị ấy. Còn đối với những vị Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu đã tận, tu hành thành mãn, các việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã thành đạt lý tưởng, đã tận trừ hữu kiết sử, chánh trí giải thoát, những pháp ấy đưa đến sự hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.

Khi được nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggallana bạch Thế Tôn:

-- Các đệ tử của Sa-môn Gotama, khi được Sa-môn Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, có phải tất cả đều chứng được cứu cánh đích Niết-bàn hay chỉ có một số chứng được?

-- Này Bà-la-môn, một số đệ tử của Ta, khi được khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được.

-- Thưa Tôn giả Gotama, do nhân gì, do duyên gì trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đưa đến Niết-bàn, trong khi có mặt Tôn giả Gotama là bậc chỉ đường, tuy vậy các đệ tử Tôn giả Gotama, được Tôn giả Gotama khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được?

-- Này Bà-la-môn, ở đây Ta sẽ hỏi Ông. Nếu Ông kham nhẫn, hãy trả lời cho Ta. Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có giỏi về con đường đi đến Rajagaha (Vương Xá)?

-- Thưa Tôn giả, con có giỏi về con đường đi đến Rajagaha.

-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ở đây, có một người, muốn đi đến Rajagaha, người này đến Ông và nói như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha. Hãy chỉ cho tôi con đường đi đến Rajagaha". Ông nói với người ấy như sau: "Ðược, này Bạn, đây là con đường đưa đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn tên như thế này. Hãy đi theo trong một thời gian. Sau khi đi trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những hồ ao mỹ diệu". Dầu cho người ấy được khuyến giáo như vậy, được giảng dạy như vậy, nhưng lại lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây. Rồi một người thứ hai đến, muốn đi đến Rajagaha. Người này đến Ông và hỏi như sau: "Thưa Tôn giả, tôi muốn đi đến Rajagaha, mong Tôn giả chỉ con đường ấy cho tôi". Rồi Ông nói với người ấy như sau: "Ðược, này Bạn, đây là đường đi đến Rajagaha. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một làng có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi một thời gian, Bạn sẽ thấy một thị trấn có tên như thế này. Hãy đi theo con đường ấy trong một thời gian. Sau khi đi theo con đường ấy trong một thời gian, Bạn sẽ thấy Rajagaha với những khu vườn mỹ diệu, với những khu rừng mỹ diệu, với những vùng đất mỹ diệu, với những ao hồ mỹ diệu". Người ấy được Ông khuyến giáo như vậy, giảng như vậy, đi đến Rajagaha một cách an toàn.

Này Bà-la-môn, do nhân gì, do duyên gì, trong khi có mặt Rajagaha, trong khi có mặt con đường đưa đến Rajagaha, trong khi có mặt Ông là người chỉ đường, dầu cho Ông có khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một người lấy con đường sai lạc, đi về hướng Tây, còn một người có thể đi đến Rajagaha một cách an toàn?

-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây, con làm gì được? Con chỉ là người chỉ đường, thưa Tôn giả Gotama.

-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, trong khi có mặt Niết-bàn, trong khi có mặt con đường đi đến Niết-bàn, và trong khi có mặt Ta là bậc chỉ đường. Nhưng các đệ tử của Ta, được Ta khuyến giáo như vậy, giảng dạy như vậy, một số chứng được cứu cánh đích Niết-bàn, một số không chứng được. Ở đây, này Bà-la-môn, Ta làm gì được? Như Lai chỉ là người chỉ đường.

Khi nghe nói vậy, Bà-la-môn Ganaka Moggalana bạch Thế Tôn:

-- Thưa Tôn giả Gotama, đối với những người không phải vì lòng tin, chỉ vì sinh kế, xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, những người xảo trá, lường gạt, hư ngụy, mất thăng bằng, cao mạn, dao động, nói phô tạp nhạp, không hộ trì các căn, ăn uống không tiết độ, không chú tâm cảnh giác, thờ ơ với Sa-môn hạnh, không tôn kính học tập, sống quá đầy đủ, uể oải, đi đầu trong thối thất, từ bỏ gánh nặng viễn ly, biếng nhác, tinh cần thấp kém, thất niệm, không tỉnh giác, không định tâm, tâm tán loạn, liệt tuệ, câm ngọng; Tôn giả Gotama không thể sống với những người như vậy.

Còn những Thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, không xảo trá, không lường gạt, không hư ngụy, không mất thăng bằng, không cao mạn, không dao động, không nói phô tạp nhạp, hộ trì các căn, ăn uống có tiết độ, chú tâm tỉnh giác, không thờ ơ với Sa-môn hạnh, tôn kính học tập, sống không quá đầy đủ, không uể oải, từ bỏ thối thất, đi đầu trong viễn ly, tinh cần, tinh tấn, chánh niệm, an trú, tỉnh giác, định tĩnh, nhứt tâm, có trí tuệ, không câm ngọng; Tôn giả Gotama sống hòa hợp với những vị ấy.

Ví như Tôn giả Gotama, trong các loại căn hương, hắc chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại lõi cây hương, xích chiên đàn hương được gọi là tối thượng; trong các loại hoa hương, vũ quý hương (jasmine) được gọi là tối thượng. Cũng vậy là lời khuyến giáo của Tôn giả Gotama được xem là cao nhất trong những lời khuyến giáo hiện nay.

Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, thưa Tôn giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày những gì bị che kín, chỉ đường cho những người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc; cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 40: Phổ Hiền Hạnh Nguyện
  2. Kinh Chân nhân - Sappurisa sutta (Định nghĩa "chân nhân" qua chánh tri kiến: biết cái gì là cứu cánh và cái gì là phương tiện; biết đúng về giới–định–tuệ–giải thoát và con đường đưa đến chúng)
  3. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 19: Thăng Dạ Ma Thiên Cung (Phật lên cõi trời Dạ Ma)
  4. Tương ưng Samaṇḍaka - Samaṇḍaka-saṃyutta (Đối thoại nhằm giải thích giáo lý và lập trường tu tập)
  5. Tiểu kinh Màlunkyà - Cula Màlunkyà sutta (Ví dụ "mũi tên tẩm độc": bác việc sa đà siêu hình; đặt trọng tâm vào Tứ Thánh đế và mục tiêu đoạn khổ)
  6. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala - Ambalatthikà Ràhulovàda sutta (Dạy về chân thật và tự phản tỉnh trước–trong–sau khi hành động (thân–khẩu–ý) như nền tảng thanh tịnh)
  7. Đại kinh Phương quảng - Mahàvedalla sutta (Hỏi–đáp về nhiều khái niệm cốt lõi (danh–sắc, thức, thọ, tưởng, hành, tuệ giải thoát…) và làm rõ mối liên hệ giữa các pháp)
  8. Kinh Sáu Thanh tịnh - Chabbisodhana sutta (Đặt tiêu chuẩn cho việc tuyên bố chứng đắc (sáu mặt) để tránh nói quá/tự cao; nhấn mạnh chân thật, đúng thời và bảo hộ sự thanh tịnh cộng đồng)
  9. Kinh Gopaka Moggallàna - Gopakamoggallàna sutta (Sau khi Phật nhập Niết-bàn, khẳng định không có cá nhân "lãnh đạo thay Phật"; Pháp–Luật là chỗ nương và chuẩn tắc vận hành của Tăng đoàn)
  10. Kinh Ví dụ con rắn - Alagaddùpama sutta (Cảnh báo hiểu sai giáo pháp, nêu ví dụ bắt rắn sai cách và ví dụ chiếc bè qua sông để nhấn mạnh dùng Pháp như phương tiện, không chấp thủ)
  11. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 2: Như Lai Hiện Tướng (Phật hiện hào quang, chỉ rõ pháp thân chân thật)
  12. Kinh Mahàli - Mahàli sutta (Thắc-mắc về Thiên-âm và về mạng-căn)
  13. Tương ưng Moggallāna - Moggallāna-saṃyutta (Liên hệ (Đại) Moggallāna, nêu khía cạnh tu tập và kinh nghiệm hành trì)
  14. Kinh Phật nói như vậy - Itivuttaka (Tuyển các bài ngắn theo mô thức "Đức Thế Tôn đã nói như vậy" (iti vuttam); cấu trúc thường gồm văn xuôi kèm kệ tóm lược hoặc nhấn mạnh ý chính)
  15. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 28: Thập Thông (Mười trí tuệ thông suốt)
  16. Kinh Đại không - Mahàsunnata sutta (Nhấn mạnh kỷ luật viễn ly (độc cư, hộ trì căn, định tĩnh) để an trú không tánh; "không" được hiểu như buông tướng chấp trong thực hành, không phải học thuyết trừu tượng)
  17. Kinh Bất đoạn - Anupada sutta (Tán dương Xá-lợi-phất tuệ tri "không gián đoạn" trong từng tầng thiền/chứng đắc; minh họa mô hình kết hợp định sâu và tuệ quán vi tế)
  18. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp - Acchariya-abbhùtadhamma sutta (A-nan tán thán các "pháp hy hữu" của Như Lai, nhắc các chi tiết truyền thống về sự xuất hiện của Phật; đồng thời quy chiếu mục tiêu là học và hành theo pháp)
  19. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 31: Thọ Lượng (Tuổi thọ dài lâu của Phật)
  20. Kinh Bất động lợi ích - Anenjasappàya sutta (Chỉ điều kiện đưa đến "bất động" (định sâu) và cảnh báo chấp thủ chứng đắc vi tế; nhấn mạnh tuệ quán vô thường–vô ngã để vượt dừng ở an ổn tạm thời)
  21. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 25: Thập Hồi Hướng (Mười cách đem công đức hồi hướng về đạo quả)
  22. Kinh Hữu học - Sekha sutta (Phác họa lộ trình của bậc hữu học: giới, hộ trì căn, chánh niệm tỉnh giác, thiền định và tuệ giác theo tiến trình tu học)
  23. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi - Cùlahatthipadopama sutta (Dùng ví dụ "dấu chân voi" để hướng dẫn kiểm chứng giáo pháp theo lộ trình tu tập từ tín tâm, trì giới đến thiền định và tuệ giải thoát)
  24. Kinh Angulimàla - Angulimàla sutta (Cảm hóa kẻ sát nhân Aṅgulimāla; nêu khả năng chuyển hóa và "quay đầu" nhờ từ bi và tu tập, dù vẫn chịu quả hiện đời)
  25. Tương ưng Thọ - Vedanā-saṃyutta (Nhóm bài về cảm thọ (lạc–khổ–bất khổ bất lạc) và cách quán sát thọ)
  26. Tiểu kinh Mãn nguyệt - Cùlapunnama sutta (Nêu khác biệt phàm phu và Thánh đệ tử trước ngũ uẩn: phàm phu sở hữu hóa; Thánh đệ tử tuệ tri như thật nên không thủ trước, hướng đến đoạn khổ)
  27. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 29: Thập Nhẫn (Mười sự nhẫn nhục, an định của tâm)
  28. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 39: Nhập Pháp Giới (Thiện Tài Đồng Tử tham học 53 vị thiện tri thức, thể nhập chân lý pháp giới)
  29. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 22: Vô Tận Tạng (Mười kho tàng công đức vô tận)
  30. Kinh Potaliya - Potaliya sutta (Tái định nghĩa "xuất ly": không chỉ rút khỏi việc đời mà là đoạn trừ các tập khí bất thiện và thiết lập chuẩn mực sống đưa đến an tịnh)
  31. Tương ưng Giác chi - Bojjhaṅga-saṃyutta (Trình bày bảy giác chi và điều kiện nuôi dưỡng/viên mãn các yếu tố giác ngộ)
  32. Tương Ưng Chư Thiên - Devatā-saṃyutta ((Thuộc Kinh Tương Ưng Bộ: Tập I - Thiên Có Kệ) Các bài kệ đối thoại với chư thiên (devatā), xoay quanh pháp học và thực hành)
  33. Đại kinh Rừng sừng bò - Mahàgosinga sutta (Các đại đệ tử bàn luận "hạng tỳ-kheo nào làm đẹp khu rừng" với nhiều phẩm chất khác nhau; Đức Phật xác chứng các phẩm chất ấy quy về đoạn trừ bất thiện và tăng trưởng thiện pháp)
  34. Tương ưng Phạm thiên - Brahmā-saṃyutta (Các bài liên hệ Phạm thiên (Brahmā), nêu bối cảnh và đối thoại giáo lý)
  35. Kinh Trạm xe - Rathavinìta sutta (Dụ "trạm xe/xe chuyển trạm" để minh họa các tầng thanh tịnh như những chặng chuyển tiếp hướng về cứu cánh Niết-bàn)
  36. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 34: Như Lai Thập Thân Tướng Hải (Mười thân của Phật (pháp thân, báo thân...))
  37. Kinh Bạc-câu-la - Bakkula sutta (Bakkula thuật đời sống phạm hạnh thanh tịnh, tri túc và tinh cần bền bỉ; nêu gương "phạm hạnh giản dị" và sức mạnh của nội lực không phô trương)
  38. Kinh Kosambiya - Kosambiya sutta (Bối cảnh Tăng đoàn tranh cãi; dạy các pháp đưa đến hòa hợp và cách xử lý bất đồng dựa trên từ bi, tôn trọng Pháp–Luật và mục tiêu phạm hạnh)
  39. Kinh Khởi thế nhân bổn - Agganna sutta (Thế-giới: từ sơ-khai đến lúc thành bốn giai-cấp)
  40. Tương ưng Kim xí điểu - Supaṇṇa-saṃyutta (Nhóm bài liên hệ supaṇṇa, dùng bối cảnh/ẩn dụ để nêu pháp)
  41. Kinh Kannakatthala - Kannakatthala sutta (Vua Pasenadi hỏi về xã hội–tôn giáo (đẳng cấp, nghiệp, tái sinh) và tri kiến; trả lời theo nhân quả và phẩm hạnh)
  42. Kinh Phân biệt về Sự thật - Saccavibhanga sutta (Xá-lợi-phất phân tích Tứ Thánh đế theo cấu trúc chuẩn: biết như thật Khổ–Tập–Diệt–Đạo và "nhiệm vụ" tương ứng (liễu tri–đoạn–chứng–tu))
  43. Kinh Đại Niệm xứ - Mahàsatipatthana sutta (Bốn phép quán-niệm: thân, thọ, tâm, pháp)
  44. Tiểu kinh Người chăn bò - Cùlagopàlaka sutta (Dụ ngắn về người chăn bò ngu đưa bầy qua sông sai thời, ví người tu hành sai thời và sai phương pháp dễ tổn hại, suy sụp)
  45. Kinh Giáo giới Cấp Cô Độc - Anàthapindikovàda sutta (Pháp thoại cho cư sĩ cận tử: quán không chấp thủ đối với sáu căn–sáu trần, các uẩn và cảnh giới; giúp tâm xả ly, không hoảng loạn trước sinh tử)
  46. Tương ưng Tâm - Citta-saṃyutta (Liên hệ cư sĩ Citta: đời sống cư sĩ thực hành đúng pháp và các vấn đề cốt lõi học–tu)
  47. Kinh Nhiều cảm thọ - Bahuvedanìya sutta (Triển khai các hệ phân loại cảm thọ; làm rõ dục lạc và hỷ lạc thiền định để quán sát, không chấp thủ, hướng đến đoạn khổ)
  48. Kinh Tệ-túc - Pàyàsi sutta (Phá tà-kiến "chẳng có Luân-hồi, quả-báo")
  49. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (I) - Jātaka (Tập hợp truyện tiền thân (jātaka) gắn với tiền kiếp của Đức Phật/Bồ-tát; thường là truyện kể kèm kệ, với mô-típ nhân vật, tình huống và lời kết luận đạo đức trong cấu trúc truyện. Nội dung chủ yếu là các tình huống lựa chọn và hành vi, qua đó trình bày các phẩm chất/đức hạnh được nêu trong truyền thống truyện tiền thân)
  50. Kinh Dạy Vacchagotta về Lửa - Aggivacchagotta sutta (Phá khung câu hỏi về Như Lai sau chết; dùng ví dụ "lửa tắt" để tránh chấp thường–đoạn và ngã kiến)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm:

tang [ sāng ]

6852, tổng 9 nét, bộ mộc 木 (+5 nét)

Xem thêm:

luân [ lún ]

56F5, tổng 7 nét, bộ vi 囗 (+4 nét)

Nghĩa: (xem: hốt luân 圇,囵)

Xem thêm:

luỹ [ ]

7045, tổng 21 nét, bộ thuỷ 水 (+18 nét)

Mời xem:

Đinh Mùi 1967 Nữ Mạng