Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Pāli » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Minh Châu

Kinh Văn

KINH PHÙ-DI

Bhùmija sutta

(Chỉ nguyên nhân "tu mà không kết quả" thường do sai hướng/thiếu điều kiện đúng pháp hoặc mong cầu lệch; nhấn mạnh nguyên tắc nhân–duyên: đúng phương pháp quan trọng hơn cố gắng mù quáng)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Minh Châu

Thuộc bộ: , Trung Bộ Kinh, Nikaya, (126)

Ngôn ngữ: Pāli

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Nội Dung:
Kinh Phù-di


Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc.

Rồi Tôn giả Bhumija (Phù-di) vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của vương tử Jayasena, sau khi đến ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi vương tử Jayasena đi đến Tôn giả Bhumija, sau khi đến nói lên với Tôn giả Bhumija những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vương tử Jayasena thưa với Tôn giả Bhumija:

-- Thưa Tôn giả Bhumija, có một số Sa-môn, Bà-la-môn có lý thuyết như sau, có quan điểm như sau: "Nếu có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu không có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu có và không có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu không có và không không có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị". Ở đây, bậc Ðạo sư của Tôn giả Bhumija có nói gì, và có lập luận gì?

-- Thưa Vương tử, tôi không tận mặt Thế Tôn được nghe như vậy, được ghi nhớ như vậy. Và sự việc này xảy ra, Thế Tôn có giải thích như sau: "Nếu có ước nguyện, hành Phạm hạnh không chánh đáng (ayoni so), thời không đạt được quả vị; nếu không có ước nguyện, hành Phạm hạnh không chánh đáng, thời không đạt được quả vị; nếu có và không có ước nguyện, hành Phạm hạnh không chánh đáng, thời không đạt được quả vị; nếu không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh không chánh đáng, thời không đạt được quả vị. Còn nếu có ước nguyện, hành Phạm hạnh một cách chánh đáng, thời đạt được quả vị; nếu không có ước nguyện, hành Phạm hạnh một cách chánh đáng, thời đạt được quả vị; nếu có và không có ước nguyện, hành Phạm hạnh một cách chánh đáng, thời đạt được quả vị; nếu không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh một cách chánh đáng, thời đạt được quả vị". Thưa Vương tử, tôi không tận mặt Thế Tôn được nghe như vậy, được ghi nhớ như vậy. Sự việc xảy ra, Thế Tôn có giải thích như vậy.

-- Nếu Ðạo sư của Tôn giả Bhumija thuyết lý như vậy, lập luận như vậy, thời tôi nghĩ rằng chắc chắn vị Ðạo sư của Tôn giả Bhumija, đứng cao hơn trên đầu tất cả Sa-môn, Bà-la-môn tầm thường.

Rồi vương tử Jayasena mời Tôn giả Bhumija, dùng với bát ăn (thalipaka) của mình.

Rồi Tôn giả Bhumija, sau bữa ăn khất thực trở về đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Bhumija bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, ở đây, vào buổi sáng con đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của vương tử Jayasena, sau khi đến con ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, bạch Thế Tôn, vương tử Jayasena đến chỗ con, sau khi đến nói lên với con những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, bạch Thế Tôn, vương tử Jayasena nói với con như sau: "Thưa Tôn giả Bhumija, một số Sa-môn, Bà-la-môn, .... bậc Ðạo sư của Tôn giả có nói gì, có lập luận gì?" Khi được nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, con có nói với vương tử Jayasena, như sau: "Này Vương tử, tôi không tận mặt Thế Tôn, được nghe như sau, được ghi nhớ như sau:... ". -- "Nếu Ðạo sư của Tôn giả Bhumija... Tôi nghĩ rằng chắc chắn Ðạo sư của Tôn giả Bhumija, đứng cao hơn trên đầu tất cả Sa-môn, Bà-la-môn tầm thường". Bạch Thế Tôn, không hiểu hỏi như vậy, trả lời như vậy, con có nói đúng lời Thế Tôn nói, con không xuyên tạc lời Thế Tôn với điều không đúng sự thực, nhưng con đã giải thích đúng pháp, tùy pháp, và một vị đồng Phạm hạnh nói đúng pháp, tùy pháp sẽ không có lý do để chỉ trích?

-- Thật vậy, này Bhumija, được hỏi vậy, được trả lời vậy, Ông nói đúng lời Thế Tôn nói, Ông không xuyên tạc Thế Tôn với điều không đúng sự thực, Ông đã giải thích đúng pháp, tùy pháp, và một vị đồng Phạm hạnh nói đúng pháp, tùy pháp không có lý do gì để chỉ trích.

Này Bhumija, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, nếu họ có ước nguyện hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu họ không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu họ có và không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời không đạt được quả vị. Vì sao vậy? Ðây không phải là phương pháp, này Bhumija, để đạt được quả vị.

Ví như, này Bhumija, một người cần dầu, tìm cầu dầu, đi chỗ này chỗ kia để tìm dầu. Sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cát cho ra dầu). Nếu người ấy có ước nguyện, sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cát cho ra dầu), người ấy không lấy được dầu. Nếu người ấy không có ước nguyện, sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cát cho ra dầu), người ấy không lấy được dầu. Nếu người ấy có và không có ước nguyện, sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cát cho ra dầu), người ấy không lấy được dầu. Nếu người ấy không có và không không có ước nguyện, sau khi đổ cát vào thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cát cho ra dầu), người ấy không lấy được dầu. Vì sao vậy? Ðây không phải là phương pháp, này Bhumija, để lấy được dầu. Cũng vậy, này Bhumija, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà tư duy... tà định, nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, họ không đạt được quả vị; nếu họ không ước nguyện... có và không có ước nguyện... không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ không đạt được quả vị. Vì sao vậy? Ðây không phải là phương pháp này Bhumija, để đạt được quả vị.

Ví như, này Bhumija, một người cần sữa, tìm cầu sữa, đi chỗ này chỗ kia để tìm sữa, nắm sừng con bò cái trẻ để vắt sữa. Nếu người ấy có ước nguyện, nắm sừng con bò cái trẻ để vắt sữa, người ấy không lấy được sữa. Nếu người ấy không có ước nguyện... Nếu người ấy có và không có ước nguyện... Nếu người ấy không có và không không có ước nguyện, nắm sừng con bò cái trẻ để vắt sữa, người ấy không lấy được sữa. Vì sao vậy? Này Bhumija, đây không phải là phương pháp để lấy sữa. Cũng vậy, này Bhumija, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn, có tà kiến... có tà định, nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, họ không đạt được quả vị; nếu họ không có ước nguyện ... ; nếu họ có và không có ước nguyện ...; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, họ không đạt được quả vị. Vì sao vậy? Ðây không phải là phương pháp, này Bhumija, để đạt được quả vị.

Ví như, này Bhumija, một người cần sanh tô, tìm cầu sanh tô, đi chỗ này chỗ kia để tìm cầu sanh tô, sau khi đổ nước vào một cái ghè, rồi lấy que khuấy đánh. Nếu người ấy có ước nguyện, sau khi đổ nước vào một cái ghè, lấy que khuấy đánh, người ấy không lấy được sanh tô. Nếu người ấy không có ước nguyện...; nếu người ấy có và không có ước nguyện...; nếu người ấy không có và không không có ước nguyện, đổ nước vào một cái ghè, lấy que khuấy đánh, người ấy không lấy được sanh tô. Vì sao vậy? Này Bhumija, đây không phải là phương pháp để lấy sanh tô. Cũng vậy, này Bhumija, những Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến... có tà định, nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, họ không đạt được quả vị; nếu họ không có ước nguyện...; nếu họ có và không có ước nguyện...; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ không đạt được quả vị. Vì sao vậy? Này Bhumija, đây không phải là phương pháp để đạt được quả vị.

Ví như, này Bhumija, một người cần lửa, tìm cầu lửa, đi chỗ này chỗ kia để tìm lửa. Người ấy đem phần phía trên đồ quay lửa, rồi cọ xát với một khúc que ướt và có nhựa. Nếu người ấy có ước nguyện, đem phần phía trên đồ quay lửa, rồi cọ xát với một khúc que ướt và có nhựa, thời người ấy không lấy được lửa; nếu người ấy không có ước nguyện...; nếu người ấy có và không có ước nguyện ...; nếu người ấy không có và không không có ước nguyện, đem phần trên đồ quay lửa, rồi cọ xát với một khúc que ướt và có nhựa, thời người ấy không lấy được lửa. Vì sao vậy? Ðây không phải là phương pháp, này Bhumija, để lấy được lửa. Cũng vậy, này Bhumija, có những Sa-môn, hay Bà-la-môn có tà kiến... có tà định; nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, họ không đạt được quả vị; nếu họ không có ước nguyện...; nếu họ có và không có ước nguyện...; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ không thể đạt được quả vị. Vì cớ sao? Ðây không phải là phương pháp, này Bhumija, để đạt được quả vị.

Này Bhumija, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, họ đạt được quả vị; nếu họ không có ước nguyện ...; nếu họ có và không có ước nguyện ...; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị. Vì cớ sao? Ðây là phương pháp, này Bhumija, để đạt được quả vị.

Ví như, này Bhumija, một người cần dầu, cầu tìm dầu, đi chỗ này chỗ kia để tìm dầu, sau khi đổ những hột giống dầu vào cái thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cho ra dầu). Nếu người ấy có ước nguyện, sau khi đổ những giống dầu vào trong cái thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cho ra dầu), thời người ấy lấy được dầu. Nếu người ấy không có ước nguyện ...; nếu người ấy có và không có ước nguyện ...; nếu người ấy không có và không không có ước nguyện, sau khi đổ những hột giống dầu vào trong cái thùng, tiếp tục rưới nước rồi ép (cho ra dầu), thời người ấy lấy được dầu. Vì cớ sao? Này Bhumija, đây là phương pháp để lấy được dầu. Cũng vậy, này Bhumija, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào có chánh kiến... có chánh định. Nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị; nếu họ không có ước nguyện ...; nếu họ có và không có ước nguyện ...; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị. Vì cớ sao? Này Bhumija, đây là phương pháp để đạt được quả vị.

Ví như, này Bhumija, một người cần sữa, tìm cầu sữa, đi chỗ này chỗ kia để tìm sữa. Và người ấy vắt sữa từ nơi vú con bò cái còn trẻ. Nếu người ấy có ước nguyện, vắt sữa từ nơi vú con bò cái còn trẻ, thời người ấy lấy được sữa. Nếu người ấy không có ước nguyện ...; nếu người ấy có và không có ước nguyện ...; nếu người ấy không có và không không có ước nguyện, người ấy vắt sữa từ nơi vú con bò cái còn trẻ, thời người ấy lấy được sữa. Vì cớ sao? Này Bhumija, đây là phương pháp để lấy được sữa. Cũng vậy, này Bhumija, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có chánh kiến... có chánh định, nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị. Nếu họ không có ước nguyện ...; nếu họ có và không có ước nguyện ...; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị. Vì cớ sao? Này Bhumija, đây là phương pháp để đạt được quả vị.

Ví như, này Bhumija, một người cần sanh tô, tìm cầu sanh tô, đi chỗ này chỗ kia tìm cầu sanh tô; sau khi đổ lạc (dadhi) vào trong một cái ghè, rồi lấy cây que khuấy, đánh. Nếu người ấy có ước nguyện, sau khi đổ lạc (dadhi) vào trong một cái ghè, rồi lấy cây que khuấy, đánh, thời người ấy lấy được sanh tô. Nếu người ấy không có ước nguyện ...; nếu người ấy có và không có ước nguyện ...; nếu người ấy không có và không không có ước nguyện, thời sau khi đổ lạc (dadhi) vào trong một cái ghè, rồi lấy que khuấy, đánh, người ấy lấy được sanh tô. Vì cớ sao? Này Bhumija, đây là phương pháp để lấy được sanh tô. Cũng vậy, này Bhumija, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào có chánh kiến... có chánh định; nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị. Nếu họ không có ước nguyện ...; nếu họ có và không có ước nguyện ...; nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị. Vì cớ sao? Này Bhumija, đây là phương pháp để đạt được quả vị.

Ví như, này Bhumija, có một người cần lửa, tìm cầu lửa, đi chỗ này chỗ kia để tìm lửa, sau khi mang phần trên đồ quay lửa rồi cọ xát với một khúc cây khô không có nhựa. Nếu người ấy có ước nguyện, đem phần phía trên đồ quay lửa rồi cọ xát với một khúc cây khô không có nhựa, thời người ấy lấy được lửa. Nếu người ấy không có ước nguyện ...; nếu người ấy có và không có ước nguyện ...; nếu người ấy không có và không không có ước nguyện, đem phần phía trên đồ quay lửa rồi cọ xát với một khúc cây khô không có nhựa, thời người ấy lấy được lửa. Vì cớ sao? Này Bhumija, đây là phương pháp để lấy được lửa. Cũng vậy, này Bhumija, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào có chánh kiến... chánh định. Nếu họ có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị; nếu họ không có ước nguyện ...; nếu họ có và không có ước nguyện ..., nếu họ không có và không không có ước nguyện, hành Phạm hạnh, thời họ đạt được quả vị. Vì sao vậy? Này Bhumija, đây là phương pháp để đạt được quả vị.

Nếu bốn ví dụ này, này Bhumija, khởi đến từ nơi Ông cho vương tử Jayasena, thời vương tử Jayasena tự nhiên tin tưởng Ông, và khi đã tin tưởng, sẽ hành động đúng theo cung cách một người đã tin tưởng Ông.

-- Nhưng làm sao, bạch Thế Tôn, bốn ví dụ này khởi đến từ nơi con cho vương tử Jayasena, khởi lên một cách tự nhiên, từ trước chưa từng được nghe, như Thế Tôn được?

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Bhumja hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Kinh Ví dụ tấm vải - Vatthùpama sutta (Dùng ẩn dụ Tấm Vải để nói về thanh tịnh tâm)
  2. Kinh Esukàrì - Esukàrì sutta (Bác bỏ quan niệm bổn phận phục dịch/cúng dường theo giai cấp; đặt nền đạo đức xã hội trên đức hạnh, công bằng và nhân phẩm)
  3. Kinh Nghĩ như thế nào - Kinti sutta (Nêu nguyên nhân tranh chấp và cách sống hòa hợp trong Tăng: cùng tán thán–cùng hành trì–cùng tuệ tri, xử lý bất đồng trên nền Pháp–Luật)
  4. Tương ưng Sự thật - Sacca-saṃyutta (Trọng tâm về Tứ Thánh Đế và cách quán triệt chúng như cốt lõi giải thoát)
  5. Tương Ưng Chư Thiên - Devatā-saṃyutta ((Thuộc Kinh Tương Ưng Bộ: Tập I - Thiên Có Kệ) Các bài kệ đối thoại với chư thiên (devatā), xoay quanh pháp học và thực hành)
  6. Kinh Tệ-túc - Pàyàsi sutta (Phá tà-kiến "chẳng có Luân-hồi, quả-báo")
  7. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 23: Thăng Đâu Suất Thiên Cung (Phật lên cõi trời Đâu Suất (nơi Bồ tát Di Lặc ở))
  8. Tương ưng Rāhula - Rāhula-saṃyutta (Lời dạy liên hệ Rāhula: tự quán sát, học pháp và thực hành đúng căn cơ)
  9. Tương ưng Không thuyết - Avyākata-saṃyutta (Về các vấn đề "không được tuyên bố/không trả lời", xác định phạm vi thiết yếu cho giải thoát)
  10. Kinh Sáu Thanh tịnh - Chabbisodhana sutta (Đặt tiêu chuẩn cho việc tuyên bố chứng đắc (sáu mặt) để tránh nói quá/tự cao; nhấn mạnh chân thật, đúng thời và bảo hộ sự thanh tịnh cộng đồng)
  11. Đại kinh Saccaka - Mahàsaccaka sutta (Mở rộng đối thoại với Saccaka về con đường tu; bác bỏ khổ hạnh cực đoan, thuật lại lý do từ bỏ và khẳng định Trung đạo cùng vai trò thiền định trong giác ngộ)
  12. Tương ưng Nhân duyên - Nidāna-saṃyutta (Trình bày hệ thống duyên khởi: các pháp sinh khởi do điều kiện)
  13. Đại kinh Sáu xứ - Mahàsalàyatanika sutta (Khai triển rộng về sáu xứ: không như thật tri thì tham ái tăng trưởng; như thật tri thì ái diệt và đạo lộ mở ra—đặt tri kiến đúng về lục xứ làm nền đoạn tận khổ)
  14. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 21: Thập Hạnh (Mười hạnh nguyện tu tập của Bồ tát)
  15. Kinh Potthapàda (Bố-sá-bà-lâu) - Potthapàda sutta (Cách diệt tận các tư-tưởng)
  16. Trưởng lão kệ - Theragāthā (Tuyển tập kệ gán cho các trưởng lão tỳ-kheo; nhiều bài mang hình thức tự thuật hoặc độc thoại, phản ánh kinh nghiệm đời sống xuất gia và các trạng thái nội tâm. Các bài kệ thường đề cập đến những chủ đề như đoạn trừ phiền não, đời sống viễn ly và lời tuyên bố về thành tựu của nhân vật trong bài)
  17. Tương ưng Vô thủy - Anamatagga-saṃyutta (Nhấn mạnh luân hồi vô thủy và tính cấp thiết của giải thoát)
  18. Kinh Pháp trang nghiêm - Dhammacetiya sutta (Vua Pasenadi bày tỏ lòng kính tín; nhấn mạnh "pháp trang nghiêm" là đức hạnh làm nền cho đời sống (kể cả vương quyền))
  19. Đại kinh Mãn nguyệt - Mahàpunnama sutta (Giảng sâu về ngũ uẩn/thủ uẩn: vô minh dẫn đến chấp thủ; quán vô thường–khổ–vô ngã đưa đến yếm ly, ly tham và giải thoát)
  20. Kinh Devadaha - Devadaha sutta (Đối thoại với Nigaṇṭha về khổ hạnh cực đoan và thuyết )
  21. Kinh Gò mối - Vammika sutta (Dùng ẩn dụ "gò mối" và các hình ảnh đi kèm như một bài "mật ngữ", rồi giải nghĩa theo tiến trình tu tập và các pháp cần đoạn–cần chứng)
  22. Chương tám pháp - Aṭṭhakanipāta (Theo tám pháp, thường là các nhóm tám điểm cần thực hành để đem lại lợi ích hiện tại và lâu dài. Vấn đề quan trọng: đạo lộ có cấu trúc—các yếu tố phối hợp, tránh hiểu tu tập như các mảnh rời)
  23. Kinh Đại Niệm xứ - Mahàsatipatthana sutta (Bốn phép quán-niệm: thân, thọ, tâm, pháp)
  24. Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt - Sigàlovàda sutta (Lễ sáu phương và các bổn-phận ở nhà, xã-hội)
  25. Tiểu kinh Đoạn tận ái - Cùlatanhàsankhaya sutta (Dạy cách đoạn ái có hệ thống bằng việc quán sát các duyên sinh của ái và chấp thủ, nhận diện tiến trình khởi ái để tháo gỡ)
  26. Thiên Cung Sự - Vimānavatthu (Tập các truyện kể (nhiều đoạn ở dạng kệ) về chư thiên và "thiên cung", thường mở ra từ một câu hỏi/đối thoại rồi giải thích nguyên nhân quá khứ. Trọng tâm nội dung là mối liên hệ giữa hành động (đặc biệt công đức) và quả báo tái sinh trong các cảnh giới an lạc)
  27. Đại kinh Màlunkyà - Mahà Màlunkyà sutta (Trình bày các pháp cần đoạn và lộ trình đoạn trừ kiết sử; nhấn mạnh tu tập có hệ thống thay cho tranh luận/suy đoán)
  28. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VI) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 6, từ số chuyện 521 đến số 539)
  29. Kinh Ước nguyện - Akankheyya sutta (Ước nguyện đúng pháp)
  30. Kinh Sa-môn quả - Sàmannaphala sutta (Các lợi-ích thiết-thực của Quả-vi Sa-môn)
  31. Trung Bộ Kinh - Majjhima-Nikāya (Tên gọi khác: Kinh Trung Bộ, 中部經)
  32. Đại kinh Phương quảng - Mahàvedalla sutta (Hỏi–đáp về nhiều khái niệm cốt lõi (danh–sắc, thức, thọ, tưởng, hành, tuệ giải thoát…) và làm rõ mối liên hệ giữa các pháp)
  33. Bộ Kinh Nikaya - Nikāya (Thuộc Kinh tạng Pāli, là một tập hợp nhiều nhiều bài kinh, bộ kinh khác.)
  34. Tương ưng Thọ - Vedanā-saṃyutta (Nhóm bài về cảm thọ (lạc–khổ–bất khổ bất lạc) và cách quán sát thọ)
  35. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 25: Thập Hồi Hướng (Mười cách đem công đức hồi hướng về đạo quả)
  36. Kinh Đế-thích sở vấn - Sakka-panha sutta (Vua Trời hỏi Phật 6 câu về sân và giải-thoát)
  37. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VII) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 7, số chuyện từ 540 đến số 547)
  38. Tương ưng Samaṇḍaka - Samaṇḍaka-saṃyutta (Đối thoại nhằm giải thích giáo lý và lập trường tu tập)
  39. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 29: Thập Nhẫn (Mười sự nhẫn nhục, an định của tâm)
  40. Tương ưng Nhập - Okkantika-saṃyutta (Nhóm bài về "nhập/đi vào" (okkanti) theo nghĩa đi đúng hướng trên đạo lộ)
  41. Kinh Thánh cầu - Ariyapariyesanà sutta (Thuật lại hành trình tìm đạo: phân biệt "phi thánh cầu" và "thánh cầu", kể việc học đạo, khổ hạnh và chứng ngộ Trung đạo rồi hoằng pháp)
  42. Tương ưng Dạ-xoa - Yakkha-saṃyutta (Đối thoại/kệ với dạ-xoa (yakkha), thường dẫn tới quy hướng và học pháp)
  43. Kinh Nói cho dân Nagaravinda - Nagaravindeyya sutta (Dạy dân chúng tiêu chuẩn đánh giá Sa-môn/Bà-la-môn bằng chánh hạnh: ai tham–sân–dối trá–kiêu mạn thì không đáng tôn; ai ly tham, chánh trực, nhu hòa thì đáng nương tựa)
  44. Đại kinh Xóm ngựa - Mahà-Assapura sutta (Trình bày tuần tự các chuẩn mực của đời sống xuất gia và )
  45. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (II) - Jàtaka (Tiếp theo Chuyện Tiền Thân Đức Phật 1, có số chuyện từ 121 đến chuyện 263)
  46. Kinh Giáo giới Cấp Cô Độc - Anàthapindikovàda sutta (Pháp thoại cho cư sĩ cận tử: quán không chấp thủ đối với sáu căn–sáu trần, các uẩn và cảnh giới; giúp tâm xả ly, không hoảng loạn trước sinh tử)
  47. Kinh Đại không - Mahàsunnata sutta (Nhấn mạnh kỷ luật viễn ly (độc cư, hộ trì căn, định tĩnh) để an trú không tánh; "không" được hiểu như buông tướng chấp trong thực hành, không phải học thuyết trừu tượng)
  48. Tương ưng Thôn trưởng - Gāmaṇi-saṃyutta (Các bài về thôn trưởng/cộng đồng: đạo đức, nghiệp và ứng xử xã hội)
  49. Kinh Dạy Vacchagotta về Lửa - Aggivacchagotta sutta (Phá khung câu hỏi về Như Lai sau chết; dùng ví dụ "lửa tắt" để tránh chấp thường–đoạn và ngã kiến)
  50. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 39: Nhập Pháp Giới (Thiện Tài Đồng Tử tham học 53 vị thiện tri thức, thể nhập chân lý pháp giới)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm:

luy [ léi ]

8646, tổng 24 nét, bộ thảo 艸 (+21 nét)

Nghĩa: 1. bò dài, bò lan ra ; 2. cái sọt đựng đất

Xem thêm:

tri, truy [ zī ]

9531, tổng 13 nét, bộ kim 金 (+8 nét)

Nghĩa: đơn vị trọng lượng thời xưa (có sách nói bằng 6 hoặc 8 lạng, cũng có sách nói 6 thù 銖,铢 là 1 chùy 錘,锤, 2 chùy là tri, như vậy một tri bằng một phần hai lạng Trung Quốc thời xưa)

Xem thêm:

災害
tai hại

Quảng Cáo

từ điển tiếng jrai