Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Pāli » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Minh Châu

Kinh Văn

KINH TẤT CẢ CÁC LẬU HOẶC

Sabbàsava sutta

(Các phương pháp đoạn trừ lậu hoặc: như lý tác ý, phòng hộ căn, thọ dụng đúng pháp, kham nhẫn, tránh né, đoạn trừ và tu tập)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Minh Châu

Thuộc bộ: , Trung Bộ Kinh, Nikaya, (2)

Ngôn ngữ: Pāli

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Nội Dung:
Kinh Tất cả các lậu hoặc


Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc). Khi ở tại chỗ ấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo!" --"Bạch Thế Tôn", các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói: "Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Người pháp môn phòng hộ tất cả lậu hoặc". Hãy nghe và khéo tác ý. Ta sẽ nói". --"Thưa vâng, bạch Thế Tôn". Thế Tôn nói như sau:

(Tóm lược)

-- Này các Tỷ-kheo, Ta giảng sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy, không phải cho người không biết, cho người không thấy. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự diệt tận các lậu hoặc cho người biết, cho người thấy: có như lý tác ý và không như lý tác ý. Này các Tỷ-kheo, do không như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng. Này các Tỷ-kheo, do như lý tác ý, các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt. Này các Tỷ-kheo, có những lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ, có những lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.

(Các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ)

Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây có kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chơn nhơn, không thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, không tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý; vị này vì không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, vì không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý nên tác ý các pháp không cần phải tác ý và không tác ý các pháp cần phải tác ý.

Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh được sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được tăng trưởng, hay vô minh lậu chưa sanh được sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Những pháp ấy là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý. Này các Tỷ-kheo, và thế nào là các pháp cần phải tác ý mà vị ấy không tác ý? Này các Tỷ-kheo, nghĩa là các pháp do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh không sanh khởi, hay hữu lậu đã sanh được trừ diệt, hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt. Những pháp ấy là những pháp cần phải tác ý mà các vị ấy không tác ý. Do vị ấy tác ý các pháp không nên tác ý, do vị ấy không tác ý các pháp cần phải tác ý, nên các lậu hoặc chưa sanh được sanh khởi, và các lậu hoặc đã sanh được tăng trưởng.

Vị ấy không như lý tác ý như sau: "Ta có mặt trong thời quá khứ, hay ta không có mặt trong thời quá khứ? Ta có mặt trong thời quá khứ như thế nào? Ta có mặt trong thời quá khứ hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta đã có mặt như thế nào trong thời quá khứ? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai hay ta sẽ không có mặt trong thời vị lai? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai như thế nào? Ta sẽ có mặt trong thời vị lai, hình vóc như thế nào? Trước kia ta là gì và ta sẽ có mặt như thế nào trong thời vị lai?" Hay nay vị ấy có nghi ngờ về mình trong thời hiện tại: "Ta có mặt hay ta không có mặt? Ta có mặt như thế nào? Ta có mặt hình vóc như thế nào? Chúng sanh này từ đâu đến? Và rồi nó sẽ đi đâu?".

Với người không như lý tác ý như vậy, một trong sáu tà kiến này khởi lên: "Ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; "Ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật như chơn; "Do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; "Do tự mình, ta tưởng tri ta không có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn. "Không do tự mình, ta tưởng tri ta có tự ngã", tà kiến này khởi lên với người ấy như thật, như chơn; hay tà kiến này khởi lên với người ấy: "Chính tự ngã của ta nói, cảm giác, hưởng thọ quả báo các nghiệp thiện ác đã làm chỗ này, chỗ kia, chính tự ngã ấy của ta là thường trú, thường hằng, hằng tồn, không chuyển biến, và sẽ vĩnh viễn tồn tại". Này các Tỷ-kheo, như vậy gọi là tà kiến, kiến trù lâm, kiến hoang vu, kiến hý luận, kiến tranh chấp, kiến kiết phược. Này các Tỷ-kheo, trói buộc bởi kiến kiết sử, kẻ phàm phu ít nghe không được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói kẻ ấy không thoát khỏi khổ đau.

Này các Tỷ-kheo, và vị Thánh đệ tử nghe nhiều, được thấy các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh; được thấy các bậc Chơn nhơn, thuần thục pháp các bậc Chơn nhơn, tu tập pháp các bậc Chơn nhơn, tuệ tri các pháp cần phải tác ý, tuệ tri các pháp không cần phải tác ý. Vị này, nhờ tuệ tri các pháp cần phải tác ý, nhờ tuệ tri các pháp không cần phải tác ý, nên không tác ý các pháp không cần phải tác ý và tác ý các pháp cần phải tác ý.

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp không cần phải tác ý và vị này không tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh được sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được tăng trưởng; hay hữu lậu chưa sanh... (như trên)... hay vô minh lậu chưa sanh được khởi, hay vô minh lậu đã sanh được tăng trưởng. Ðó là những pháp không nên tác ý và vị ấy không tác ý. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý? Này các Tỷ-kheo, những pháp nào do vị ấy tác ý mà dục lậu chưa sanh không sanh khởi, hay dục lậu đã sanh được trừ diệt, hay hữu lậu chưa sanh... (như trên)... hay vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, hay vô minh lậu đã sanh được trừ diệt, đó là những pháp cần phải tác ý và vị ấy tác ý. Nhờ vị ấy không tác ý các pháp không cần phải tác ý, tác ý các pháp cần phải tác ý nên các lậu hoặc chưa sanh không sanh khởi và các lậu hoặc đã sanh được trừ diệt.

Vị ấy như lý tác ý: "Ðây là khổ", như lý tác ý: "Ðây là khổ tập", như lý tác ý: "Ðây là khổ diệt", như lý tác ý: "Ðây là con đường đưa đến khổ diệt". Nhờ vị ấy tác ý như vậy, ba kiết sử được trừ diệt: thân kiến, nghi, giới cấm thủ. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tri kiến được đoạn trừ.

(Các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ)

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ? Ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ với sự phòng hộ mắt, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Vị ấy như lý giác sát, sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ tai... (như trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lỗ mũi... (như trên)... sống phòng hộ với sự phòng hộ lưỡi... (như trên)... sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ thân... (như trên)... sống như lý giác sát phòng hộ với sự phòng hộ ý. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo ấy sống không phòng hộ với sự phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu sống phòng hộ ý, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do phòng hộ được đoạn trừ.

(Các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ)

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát, thọ dụng y phục, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát, chỉ với mục đích che đậy sự trần truồng.

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng món ăn khất thực không phải để vui đùa, không phải để đam mê, không phải để trang sức, không phải để tự làm đẹp mình, mà chỉ để thân này được sống lâu và được bảo dưỡng, để thân này khỏi bị thương hại, để hỗ trợ phạm hạnh, nghĩ rằng: "Như vậy, ta diệt trừ các cảm thọ cũ và không cho khởi lên các cảm thọ mới, và ta sẽ không có lỗi lầm, sống được an ổn".

Vị ấy như lý giác sát, thọ dụng sàng tọa, chỉ để ngăn ngừa lạnh, ngăn ngừa nóng, ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loại bò sát, chỉ để giải trừ nguy hiểm của thời tiết, chỉ với mục đích sống độc cư an tịnh.

Vị ấy như lý giác sát thọ dụng dược phẩm trị bệnh, chỉ để ngăn chận các cảm giác khổ thống đã sanh, để được ly khổ hoàn toàn.

Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy thọ dụng như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do thọ dụng được đoạn trừ.

(Các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ)

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo như lý giác sát, kham nhẫn lạnh, nóng, đói, khát, sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng mặt trời, các loài bò sát; kham nhẫn những cách nói mạ lị phỉ báng. Vị ấy có tánh kham nhẫn các cảm thọ về thân, những cảm thọ thống khổ, khốc liệt, đau nhói, nhức nhối, không sung sướng, không thích thú, chết điếng người. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não có thể khởi lên. Nếu vị ấy kham nhẫn như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do kham nhẫn được đoạn trừ.

(Các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ)

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tránh né voi dữ, tránh né ngựa dữ, tránh né bò dữ, tránh né chó dữ, rắn, khúc cây, gai góc, hố sâu, vực núi, ao nước nhớp, vũng nước. Có những chỗ ngồi không xứng đáng ngồi, những trú xứ không nên lai vãng, những bạn bè ác độc mà nếu giao du thì bị các vị đồng phạm hạnh có trí nghi ngờ, khinh thường; vị ấy như lý giác sát tránh né chỗ ngồi không xứng đáng ấy, trú xứ không nên lai vãng ấy và các bạn độc ác ấy. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tránh né như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tránh né được đoạn trừ.

(Các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ)

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát không có chấp nhận dục niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (dục niệm ấy); không có chấp nhận sân niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (sân niệm ấy); không có chấp nhận hại niệm đã khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (hại niệm ấy); không chấp nhận các ác bất thiện pháp luôn luôn khởi lên, từ bỏ, trừ diệt, diệt tận, không cho tồn tại (các ác bất thiện pháp ấy). Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy trừ diệt như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do trừ diệt được đoạn diệt.

(Các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ)

Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ? Này các Tỷ-kheo, ở đây, Tỷ-kheo như lý giác sát tu tập niệm giác chi, niệm giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ; như lý giác sát tu tập trạch pháp giác chi... (như trên)... tu tập tinh tấn giác chi... tu tập hỷ giác chi... tu tập khinh an giác chi... tu tập định giác chi... tu tập xả giác chi; xả giác chi này y viễn ly, y ly tham, y đoạn diệt, hướng đến từ bỏ. Này các Tỷ-kheo, nếu vị ấy không tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy có thể khởi lên. Nếu vị ấy tu tập như vậy, các lậu hoặc tàn hại và nhiệt não ấy không còn nữa. Này các Tỷ-kheo, các pháp ấy được gọi là các lậu hoặc phải do tu tập được đoạn trừ.

(Kết luận)

Này các Tỷ-kheo, đối với Tỷ-kheo những lậu hoặc nào phải do tri kiến được đoạn trừ đã được tri kiến đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do phòng hộ được đoạn trừ đã được phòng hộ đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do thọ dụng được đoạn trừ đã được thọ dụng đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do kham nhẫn được đoạn trừ đã được kham nhẫn đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tránh né được đoạn trừ đã được tránh né đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do trừ diệt được đoạn trừ đã được trừ diệt đoạn trừ, những lậu hoặc nào phải do tu tập được đoạn trừ đã được tu tập đoạn trừ; này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy được gọi là đã sống phòng hộ với sự phòng hộ tất cả lậu hoặc, đã đoạn diệt khát ái, đã thoát ly kiết sử, đã chánh quán kiêu mạn, đã diệt tận khổ đau.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Kinh A-sá-nang-chi - Atànàtiya sutta (Bản Hộ-Kinh giúp hộ-vệ các Tỳ-kheo)
  2. Tương ưng Dạ-xoa - Yakkha-saṃyutta (Đối thoại/kệ với dạ-xoa (yakkha), thường dẫn tới quy hướng và học pháp)
  3. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 4: Thế Giới Thành Tựu (Mô tả cấu trúc và sự hình thành của thế giới hoa tạng)
  4. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 31: Thọ Lượng (Tuổi thọ dài lâu của Phật)
  5. Tương ưng Sự thật - Sacca-saṃyutta (Trọng tâm về Tứ Thánh Đế và cách quán triệt chúng như cốt lõi giải thoát)
  6. Tiểu kinh Mãn nguyệt - Cùlapunnama sutta (Nêu khác biệt phàm phu và Thánh đệ tử trước ngũ uẩn: phàm phu sở hữu hóa; Thánh đệ tử tuệ tri như thật nên không thủ trước, hướng đến đoạn khổ)
  7. Kinh Đại Thiện Kiến vương - Mahàsudassana sutta (Tiền-thân đức Phật là vua Đại-Thiện-Kiến)
  8. Kinh Nhiều cảm thọ - Bahuvedanìya sutta (Triển khai các hệ phân loại cảm thọ; làm rõ dục lạc và hỷ lạc thiền định để quán sát, không chấp thủ, hướng đến đoạn khổ)
  9. Tương ưng Rāhula - Rāhula-saṃyutta (Lời dạy liên hệ Rāhula: tự quán sát, học pháp và thực hành đúng căn cơ)
  10. Kinh Pháp trang nghiêm - Dhammacetiya sutta (Vua Pasenadi bày tỏ lòng kính tín; nhấn mạnh "pháp trang nghiêm" là đức hạnh làm nền cho đời sống (kể cả vương quyền))
  11. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi - Cùlahatthipadopama sutta (Dùng ví dụ "dấu chân voi" để hướng dẫn kiểm chứng giáo pháp theo lộ trình tu tập từ tín tâm, trì giới đến thiền định và tuệ giải thoát)
  12. Phật Thuyết Kinh A Di Đà - 佛說阿彌陀經 (Kinh A Di Đà)
  13. Tương ưng Sakka - Sakka-saṃyutta (Các bài liên hệ Sakka (Đế Thích), nêu cách vị thiên chủ tiếp cận và học pháp)
  14. Kinh Ví dụ Con chim cáy - Latukikopama sutta (Ví dụ "chim cáy": cảnh báo xem nhẹ lỗi nhỏ trong hành trì; nêu chướng ngại và yêu cầu kham nhẫn, tinh tấn)
  15. Kinh Nhập tức, Xuất tức niệm (Kinh Quán niệm hơi thở) - Anàpànasati sutta (Dạy 16 bước niệm hơi thở (thân–thọ–tâm–pháp) và nối trực tiếp với Tứ niệm xứ, Thất giác chi, minh và giải thoát; văn bản nền tảng thiền hơi thở)
  16. Kinh Mahàli - Mahàli sutta (Thắc-mắc về Thiên-âm và về mạng-căn)
  17. Tam Luật Nghi Hội - 三律儀會 (Nhấn mạnh việc tuân thủ giới luật (vô lậu giới) để ngăn chặn các vọng tưởng, là nền tảng sự tu hành)
  18. Đại kinh Thí dụ Lõi cây - Mahasaropama-sutta (Ví cây có vỏ, giác và lõi để chỉ nguy cơ nhầm thành tựu trung gian (lợi dưỡng, danh tiếng, tri thức, định lực) với mục tiêu giải thoát)
  19. Tương ưng Minh kiến - Abhisamaya-saṃyutta (Chủ đề minh kiến/chứng tri: "thấy đúng" giáo pháp đưa đến chuyển hóa)
  20. Tương ưng Vô thủy - Anamatagga-saṃyutta (Nhấn mạnh luân hồi vô thủy và tính cấp thiết của giải thoát)
  21. Tiểu kinh Rừng sừng bò - Cùlagosinga sutta (Nêu hình mẫu đời sống rừng hòa hợp, ít lời và tinh tấn, lấy thiền định và phạm hạnh làm trọng)
  22. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 17: Sơ Phát Tâm Công Đức (Công đức vô lượng của người mới phát tâm bồ đề)
  23. Tiểu Bộ Kinh - Khuddaka-nikāya (Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikāya) là bộ thứ năm và cuối cùng trong hệ thống năm bộ kinh Nikaya thuộc Tạng Kinh Pāli (Phật giáo Nguyên thủy/Nam truyền))
  24. Kinh Phật Tự Thuyết - Udàna (Gồm các đoạn kinh ngắn có bối cảnh tự sự; mỗi đoạn thường kết thúc bằng một "cảm hứng ngôn" (udāna) dưới dạng kệ. Chủ đề trải rộng, thường chạm tới các vấn đề như vô thường, tham ái, và những phát biểu về Niết-bàn trong văn cảnh cụ thể)
  25. Kinh Potaliya - Potaliya sutta (Tái định nghĩa "xuất ly": không chỉ rút khỏi việc đời mà là đoạn trừ các tập khí bất thiện và thiết lập chuẩn mực sống đưa đến an tịnh)
  26. Tiểu kinh Pháp hành - Cùladhammasamàdàna sutta (Phân loại bốn kiểu thọ trì pháp theo cảm thọ hiện tại (khổ/lạc) và quả báo tương lai (khổ/lạc), nhấn mạnh tiêu chuẩn lợi ích lâu dài)
  27. Kinh Bhaddàli - Bhaddàli sutta (Trường hợp không thuận học giới và cách phục hồi; nhấn mạnh tôn trọng giới luật để bảo vệ hòa hợp và tiến bộ đạo nghiệp)
  28. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VII) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 7, số chuyện từ 540 đến số 547)
  29. Tương ưng Thiền - Jhāna-saṃyutta / Samādhi-saṃyutta (Nhóm bài về thiền định/samādhi: điều kiện, lợi ích và hướng vận dụng trong tu tập)
  30. Kinh Devadaha - Devadaha sutta (Đối thoại với Nigaṇṭha về khổ hạnh cực đoan và thuyết )
  31. Bộ Kinh Nikaya - Nikāya (Thuộc Kinh tạng Pāli, là một tập hợp nhiều nhiều bài kinh, bộ kinh khác.)
  32. Kinh Tiểu Tụng - Khuddakapàtha (Quyển Tiểu Tụng này được dùng như một quyển kinh dẫn nhập hữu ích trong bước đầu của đời sống tu sĩ và trong đời sống của mọi Phật tử hiện thời)
  33. Tương ưng Rādha - Rādha-saṃyutta (Đối thoại với Rādha, nhấn điểm then chốt cần hiểu đúng để tiến tu)
  34. Kinh Potthapàda (Bố-sá-bà-lâu) - Potthapàda sutta (Cách diệt tận các tư-tưởng)
  35. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 27: Thập Định (Mười loại tam muội (định) sâu xa)
  36. Tương ưng Lực - Bala-saṃyutta (Trình bày các lực và vai trò của chúng trong tiến trình tu tập)
  37. Kinh Phù-di - Bhùmija sutta (Chỉ nguyên nhân "tu mà không kết quả" thường do sai hướng/thiếu điều kiện đúng pháp hoặc mong cầu lệch; nhấn mạnh nguyên tắc nhân–duyên: đúng phương pháp quan trọng hơn cố gắng mù quáng)
  38. Kinh Sàleyyaka - Sàleyyaka sutta (Giảng cho cư sĩ về mười nghiệp đạo, đối chiếu nghiệp thân–khẩu–ý bất thiện và thiện cùng quả báo tương ứng)
  39. Tiểu kinh Khổ uẩn - Cùladukkhakkhanda sutta (Tác hại của dục và lợi ích của xuất ly)
  40. Kinh Thập thượng - Dasuttara sutta (100 pháp xếp ra 10 loại với tiêu-chuẩn Thập Thượng)
  41. Chương bốn pháp - Catukkanipāta (Trình bày các nhóm bốn pháp, phù hợp nhiều khuôn giáo lý "tứ phần". Vấn đề quan trọng: làm quen lối tư duy "liệt kê có hệ thống", liên kết pháp học với khung thực hành rõ ràng)
  42. Tiểu kinh Đoạn tận ái - Cùlatanhàsankhaya sutta (Dạy cách đoạn ái có hệ thống bằng việc quán sát các duyên sinh của ái và chấp thủ, nhận diện tiến trình khởi ái để tháo gỡ)
  43. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 13: Thăng Tu Di Sơn Đảnh (Phật lên núi Tu Di, biểu thị sự siêu việt)
  44. Kinh Giới phân biệt - Dhàtuvibhanga sutta (Giáo giới du sĩ Pukkusāti bằng phép quán giới/đại (đất–nước–lửa–gió và yếu tố tâm) để tháo gỡ ngã chấp; xem thân tâm như các yếu tố vận hành theo duyên để ly tham và an tịnh)
  45. Kinh Ví dụ cái cưa - Kakacùpama sutta (Răn dạy nhẫn nhục trước xúc phạm và bạo lực, dùng ví dụ "dù bị cưa xẻ" vẫn không khởi sân và khuyến tu tâm từ)
  46. Kinh Bát thành - Atthakanàgara sutta (Trình bày nhiều "cửa giải thoát": an trú các tầng thiền rồi quán vô thường để đoạn tận lậu hoặc (hoặc thành tựu chứng đắc cao))
  47. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala - Ambalatthikà Ràhulovàda sutta (Dạy về chân thật và tự phản tỉnh trước–trong–sau khi hành động (thân–khẩu–ý) như nền tảng thanh tịnh)
  48. Kinh Ca-diếp Sư tử hống - Kassapa-Sìhanàda sutta (Thiếu-sót của việc tu Phạm-chí khổ-hạnh quá ép-xác)
  49. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 14: Tu Di Sơn Đảnh Kệ Tán (Bồ tát ca ngợi công đức Phật bằng kệ)
  50. Kinh Sa-môn quả - Sàmannaphala sutta (Các lợi-ích thiết-thực của Quả-vi Sa-môn)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Quảng Cáo

kính quận 11