Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Pāli » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Minh Châu

Kinh Văn

KINH GULISÀNI

Gulisàni sutta

(Chuẩn mực cho vị sống viễn ly khi hòa hợp đại chúng: khiêm cung, tri túc, phòng hộ căn, chánh niệm và tu tập đưa đến định–tuệ)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Minh Châu

Thuộc bộ: , Trung Bộ Kinh, Nikaya, (69)

Ngôn ngữ: Pāli

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Nội Dung:
Kinh Gulisàni


Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại Kalandakanivapa (chỗ nuôi dưỡng sóc).

Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo Gulissani là vị sống tại rừng núi, hành động thô tháo đã đến giữa Tăng chúng do một vài công vụ. Ở đây, Tôn giả Sariputta (Xá-lợi-phất) nhân vì Tỷ-kheo Gulissani, bảo các Tỷ-kheo:

-- Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng phải biết tôn trọng, cung kính các đồng Phạm hạnh. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng không biết tôn trọng, cung kính các đồng Phạm hạnh, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả ấy lại không tôn trọng, cung kính các đồng Phạm hạnh!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng, phải biết tôn trọng, cung kính các đồng Phạm hạnh.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, phải biết khéo léo về chỗ ngồi, nghĩ rằng: "Ta sẽ ngồi, không có chiếm lấy chỗ ngồi các Thượng tọa Tỷ-kheo, không có trục xuất chỗ ngồi của các niên thiếu Tỷ-kheo. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không biết khéo xử về chỗ ngồi, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không biết hành động như pháp!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng phải biết khéo xử về chỗ ngồi.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo, sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên vào làng quá sớm và trở về ban ngày. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chư Tăng, nếu vào làng quá sớm và trở về ban ngày, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại vào làng quá sớm và trở về ban ngày". Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên vào làng quá sớm, và trở về ban ngày.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo, sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên đi đến các gia đình trước buổi ăn hay sau buổi ăn. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, đi đến các gia đình trước buổi ăn hay sau buổi ăn, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Có phải Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích, lại đi phí thời giờ quá nhiều, và xử sự như vậy đối với chúng Tăng?" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên đi đến các gia đình trước buổi ăn hay sau buổi ăn.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng không nên trạo cử, dao động. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng mà trạo cử, dao động, thời sẽ có người nói về vị ấy như sau: "Có phải Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích, lại trạo cử, dao động quá nhiều và xử sự như vậy đối với chúng Tăng?" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên trạo cử, dao động.

Này Chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng, không nên nói nhiều lời và nói tạp nhạp. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng, nói nhiều lời và nói tạp nhạp thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại nói nhiều lời và nói tạp nhạp!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, không nên nói nhiều lời và nói tạp nhạp.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng, phải là người dễ nói và là người thiện hữu. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi đến trú giữa chúng Tăng là người khó nói và là người ác hữu, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại khó nói và là người ác hữu!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, đến trú giữa chúng Tăng, phải là người dễ nói và là người thiện hữu.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thủ hộ các căn. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi không thủ hộ các căn, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không thủ hộ các căn!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thủ hộ các căn.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải tiết độ trong sự ăn uống. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi không có tiết độ trong sự ăn uống, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không có tiết độ trong sự ăn uống!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có tiết độ trong sự ăn uống.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải chú tâm cảnh giác. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi không chú tâm cảnh giác, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không chú tâm cảnh giác!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải chú tâm cảnh giác.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải tinh cần tinh tấn. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi mà biếng nhác, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại biếng nhác!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, cần phải tinh cần tinh tấn.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải chánh niệm tỉnh giác. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi mà thất niệm, thời sẽ có người nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại thất niệm!". Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi, cần phải chánh niệm tỉnh giác.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có Thiền định. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi không có Thiền định, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại không có Thiền định!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có Thiền định.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có trí tuệ. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi chỉ có liệt tuệ, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này lại chỉ có liệt tuệ!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có trí tuệ.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập thắng pháp (abhidhamma), thắng luật (abhivinaya). Này chư Hiền, sẽ có người hỏi Tỷ-kheo sống ở rừng núi về thắng pháp, thắng luật. Nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi được hỏi về thắng pháp, thắng luật mà không thể trả lời được, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này được hỏi về thắng pháp, thắng luật lại không có thể trả lời được!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải có thực tập thắng pháp, thắng luật.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập các pháp tịch tịnh giải thoát (santavimokha), vượt khỏi các sắc pháp, và các vô sắc pháp. Này chư Hiền, sẽ có người hỏi Tỷ-kheo sống ở rừng núi về các pháp tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp, các vô sắc pháp. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi được hỏi về các pháp tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp mà không thể trả lời được, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này được hỏi về các pháp tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp lại không có thể trả lời được!" Sẽ có người nói về vị ấy như vậy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập các pháp tịch tịnh giải thoát, vượt khỏi các sắc pháp và vô sắc pháp.

Này chư Hiền, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập các pháp thượng nhân. Này chư Hiền, sẽ có người hỏi Tỷ-kheo về những pháp thượng nhân. Này chư Hiền, nếu Tỷ-kheo sống ở rừng núi được hỏi về các pháp thượng nhân mà không thể trả lời được, thời có người sẽ nói về vị ấy như sau: "Nào có tốt gì, nếu Tôn giả này là vị sống ở rừng núi, sống một mình trong rừng, hành động theo sở thích; nay Tôn giả này được hỏi về những pháp thượng nhân lại không có thể trả lời được!". Như vậy sẽ có người nói về vị ấy. Do vậy, Tỷ-kheo sống ở rừng núi cần phải thực tập các pháp thượng nhân.

Khi được nói vậy, Tôn giả Mahamoggallana nói với Tôn giả Sariputta như sau:

-- Hiền giả Sariputta, các pháp này cần phải được chấp trì và thực tập chỉ bởi Tỷ-kheo sống ở rừng núi hay bởi Tỷ-kheo sống ở gần thôn làng?

-- Hiền giả Moggallana, các pháp này cần được phải chấp trì và thực tập bởi Tỷ-kheo sống ở rừng núi, huống chi Tỷ-kheo sống gần thôn làng!

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Kinh Hiền Ngu - Bàlapandita sutta (Mô tả dấu hiệu kẻ ngu và người hiền qua nghiệp thiện–bất thiện và hậu quả; dùng hình ảnh mạnh về quả báo để giáo dục đạo đức và khuyến phát tỉnh giác)
  2. Kinh Nên hành trì, không nên hành trì - Sevitabba-asevitabba sutta (Dạy tiêu chí chọn lựa rất thực dụng: điều gì làm tăng trưởng bất thiện thì không nên thân cận/thực hành; điều gì tăng trưởng thiện pháp thì nên thân cận/thực hành)
  3. Kinh Hàng ma - Màratajjanìya sutta (Thuật chuyện Mục-kiền-liên quở trách Ma quấy nhiễu và nêu bài học về tinh tấn, chánh niệm trước chướng ngại nội–ngoại duyên)
  4. Kinh Kannakatthala - Kannakatthala sutta (Vua Pasenadi hỏi về xã hội–tôn giáo (đẳng cấp, nghiệp, tái sinh) và tri kiến; trả lời theo nhân quả và phẩm hạnh)
  5. Tương ưng Sanh - Uppāda-saṃyutta (Về sự sinh khởi (uppāda) của các pháp và hệ quả đối với tuệ quán)
  6. Kinh Subha (Tu-bà) - Subha sutta (Ba Thánh-uẩn: Giới, Định, Huệ)
  7. Kinh Ví dụ tấm vải - Vatthùpama sutta (Dùng ẩn dụ Tấm Vải để nói về thanh tịnh tâm)
  8. Kinh Tùy phiền não - Upakkilesa sutta (Phân tích các chướng ngại tinh vi trong thiền (ánh sáng, hình tướng, hôn trầm, trạo cử, nghi…); hướng dẫn nhận diện và vượt qua để định–tuệ thuần thục)
  9. Kinh Devadaha - Devadaha sutta (Đối thoại với Nigaṇṭha về khổ hạnh cực đoan và thuyết )
  10. Kinh Phân biệt về Sự thật - Saccavibhanga sutta (Xá-lợi-phất phân tích Tứ Thánh đế theo cấu trúc chuẩn: biết như thật Khổ–Tập–Diệt–Đạo và "nhiệm vụ" tương ứng (liễu tri–đoạn–chứng–tu))
  11. Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt - Sigàlovàda sutta (Lễ sáu phương và các bổn-phận ở nhà, xã-hội)
  12. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi - Cùlahatthipadopama sutta (Dùng ví dụ "dấu chân voi" để hướng dẫn kiểm chứng giáo pháp theo lộ trình tu tập từ tín tâm, trì giới đến thiền định và tuệ giải thoát)
  13. Đại kinh Vaccaghotta - Mahàvacchagotta sutta (Nêu các mức độ chứng đắc trong hàng đệ tử (xuất gia và tại gia), khẳng định giáo pháp có thể thực chứng; Vaccha quy y và xin xuất gia)
  14. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (V) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 5, từ số chuyện 473 đến số 520)
  15. Chương mười pháp - Dasakanipāta (Theo mười pháp, các nhóm "mười điều" có tính tổng hợp (chuẩn mực đạo đức, yếu tố ổn định tu tập…). Vấn đề quan trọng: tính "tổng kiểm" (checklist toàn diện) cho tự rà soát (giới–phòng hộ–định–tuệ))
  16. Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) trong Kinh tạng Pali (Suttanta Pitaka). Ðây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới)
  17. Tương ưng Minh kiến - Abhisamaya-saṃyutta (Chủ đề minh kiến/chứng tri: "thấy đúng" giáo pháp đưa đến chuyển hóa)
  18. Kinh Samanamandikà - Samanamandikàputta sutta (Định nghĩa Sa-môn chân thật theo đoạn trừ bất thiện và thanh tịnh thân–khẩu–ý; không đồng nhất Sa-môn với danh xưng/hình thức)
  19. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 6: Tỳ Lô Giá Na (Ca ngợi công đức và hạnh nguyện của Phật Tỳ Lô Giá Na)
  20. Tương ưng Giác chi - Bojjhaṅga-saṃyutta (Trình bày bảy giác chi và điều kiện nuôi dưỡng/viên mãn các yếu tố giác ngộ)
  21. Tiểu kinh Màlunkyà - Cula Màlunkyà sutta (Ví dụ "mũi tên tẩm độc": bác việc sa đà siêu hình; đặt trọng tâm vào Tứ Thánh đế và mục tiêu đoạn khổ)
  22. Kinh Potthapàda (Bố-sá-bà-lâu) - Potthapàda sutta (Cách diệt tận các tư-tưởng)
  23. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 14: Tu Di Sơn Đảnh Kệ Tán (Bồ tát ca ngợi công đức Phật bằng kệ)
  24. Kinh Song tầm - Dvedhàvitakka sutta (Chia tầm thành bất thiện (dục, sân, hại) và thiện (xuất ly, vô sân, vô hại), nêu cách quan sát hệ quả để nuôi dưỡng tầm thiện)
  25. Kinh Ghotamukha - Ghotamukha sutta (Nêu tiêu chuẩn đời sống Sa-môn: không đo bằng tiện nghi hay khắc kỷ mà bằng đoạn trừ bất thiện và thanh tịnh nội tâm)
  26. Kinh Potaliya - Potaliya sutta (Tái định nghĩa "xuất ly": không chỉ rút khỏi việc đời mà là đoạn trừ các tập khí bất thiện và thiết lập chuẩn mực sống đưa đến an tịnh)
  27. Kinh Chân nhân - Sappurisa sutta (Định nghĩa "chân nhân" qua chánh tri kiến: biết cái gì là cứu cánh và cái gì là phương tiện; biết đúng về giới–định–tuệ–giải thoát và con đường đưa đến chúng)
  28. Kinh Ca-diếp Sư tử hống - Kassapa-Sìhanàda sutta (Thiếu-sót của việc tu Phạm-chí khổ-hạnh quá ép-xác)
  29. Kinh Subha - Subha sutta (Tôn giả Ānanda tóm lược cốt lõi giáo pháp theo tam học (giới–định–tuệ) và ý nghĩa thanh tịnh, phù hợp người mới tìm hiểu)
  30. Kinh Ghatìkàra - Ghatìkàra sutta (Câu chuyện thời Phật Kassapa về cư sĩ thợ gốm hộ trì cha mẹ và Tam bảo; nêu hình mẫu công hạnh tại gia)
  31. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 12: Hiền Thủ (Ca ngợi người tu hành tinh tấn, vững chãi như núi)
  32. Tương ưng Loài rồng - Nāga-saṃyutta (Nhóm bài liên hệ nāga, thiên về minh họa/đối thoại trong bối cảnh giáo hóa)
  33. Kinh Khu rừng - Vanapattha sutta (Dạy cách xét trú xứ: nơi làm tăng trưởng thiện pháp thì nên ở, nơi gây bất an và tán loạn thì nên rời)
  34. Kinh Giáo giới Nandaka - Nandakovàda sutta (Nandaka giáo giới tỳ-kheo-ni bằng phương pháp hỏi–đáp, dẫn quán uẩn/căn theo vô thường–khổ–vô ngã; minh họa tuệ quán như một kỹ nghệ sư phạm, không chỉ độc tham)
  35. Kinh Vương tử Bồ-đề - Bodhirajàkumàra sutta (Làm rõ điều kiện tu chứng và vai trò tinh tấn đúng pháp; nhấn mạnh Trung đạo, không rơi hai cực đoan buông lung/hành xác)
  36. Tam Luật Nghi Hội - 三律儀會 (Nhấn mạnh việc tuân thủ giới luật (vô lậu giới) để ngăn chặn các vọng tưởng, là nền tảng sự tu hành)
  37. Tương ưng Căn - Indriya-saṃyutta (Trình bày các căn (tín–tấn–niệm–định–tuệ) và cách làm chúng thuần thục)
  38. Kinh Sela - Sela sutta (Bà-la-môn Sela gặp Phật, tán thán bằng kệ và xin xuất gia; về sau tinh cần tu tập và chứng đạt giải thoát)
  39. Tương ưng Bà-la-môn - Brāhmaṇa-saṃyutta (Đối thoại với bà-la-môn về nghi lễ, hạnh, nghiệp và tiêu chuẩn phạm hạnh)
  40. Kinh Tư lượng - Anumàna sutta (Dạy phương pháp tự kiểm bằng )
  41. Kinh Gulisàni - Gulisàni sutta (Chuẩn mực cho vị sống viễn ly khi hòa hợp đại chúng: khiêm cung, tri túc, phòng hộ căn, chánh niệm và tu tập đưa đến định–tuệ)
  42. Tương ưng Samaṇḍaka - Samaṇḍaka-saṃyutta (Đối thoại nhằm giải thích giáo lý và lập trường tu tập)
  43. Kinh Căn tu tập - Indriyabhàvanà sutta (Bác quan niệm "tu căn" là triệt tiêu cảm giác; chỉ "vô thượng căn tu tập" là tiếp xúc sáu trần mà không bị tham–sân chi phối, chuyển hóa phản ứng bằng chánh niệm và tuệ tri)
  44. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 19: Thăng Dạ Ma Thiên Cung (Phật lên cõi trời Dạ Ma)
  45. Kinh Phật nói như vậy - Itivuttaka (Tuyển các bài ngắn theo mô thức "Đức Thế Tôn đã nói như vậy" (iti vuttam); cấu trúc thường gồm văn xuôi kèm kệ tóm lược hoặc nhấn mạnh ý chính)
  46. Tương ưng Lakkhaṇa - Lakkhaṇa-saṃyutta (Nhóm bài về quả báo/cảnh giới và bài học đạo đức qua nhân vật Lakkhaṇa)
  47. Tương ưng Vacchagotta - Vacchagotta-saṃyutta (Đối thoại với Vacchagotta về tri kiến và cách trả lời đúng pháp)
  48. Kinh Tệ-túc - Pàyàsi sutta (Phá tà-kiến "chẳng có Luân-hồi, quả-báo")
  49. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp - Acchariya-abbhùtadhamma sutta (A-nan tán thán các "pháp hy hữu" của Như Lai, nhắc các chi tiết truyền thống về sự xuất hiện của Phật; đồng thời quy chiếu mục tiêu là học và hành theo pháp)
  50. Diệu Pháp Liên Hoa Kinh - 妙法蓮華經 (Kinh Diệu Pháp Liên Hoa)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm Tác Phẩm Hán Nôm:

Ký giang bắc Huyền Hư tử - (寄江北玄虛子) | Nguyễn Du

Xem thêm:

đà [ tuó ]

6CB2, tổng 8 nét, bộ thuỷ 水 (+5 nét)

Nghĩa: sông nhánh

Quảng Cáo

tử vi