Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Việt Nam » Pāli » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Minh Châu

Kinh Văn

KINH A-NAN NHẤT DẠ HIỀN GIẢ

Anandabhaddekaratta sutta

(Giải thích cho A-nan ý nghĩa "nhất dạ hiền giả": tuệ tri pháp hiện tại mà không dính mắc thời gian tâm lý; "sống với hiện tại" là không để tham–sân–si vận hành qua hồi tưởng/dự phóng)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Minh Châu

Thuộc bộ: , Trung Bộ Kinh, Nikaya, (132)

Ngôn ngữ: Pāli

Việt Nam

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Nội Dung:
Kinh A-nan Nhất dạ hiền giả


Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Savatthi (Xá-vệ), Jetavana (Kỳ-đà lâm), tại tinh xá ông Anathapindika (Cấp Cô Ðộc).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda (A-nan) tại hội trường thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Tôn giả giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy đi đến hội trường, sau khi đến, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:

-- Này các Tỷ-kheo, ai tại hội trường đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Ai đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết?

-- Bạch Thế Tôn, Tôn giả Ananda tại hội trường đã thuyết thị, khích lệ, làm cho thích thú, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Tôn giả đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết.

Rồi Thế Tôn bảo Tôn giả Ananda:

-- Nhưng như thế nào, này Ananda, Ông đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp? Ông có phải đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết?

-- Ðúng vậy, bạch Thế Tôn, con đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Con đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết:

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Và này các Hiền giả, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như vậy, là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Hiền giả, là truy tìm quá khứ.

Và này các Hiền giả, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Hiền giả, là không truy tìm quá khứ.

Và này các Hiền giả, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy là tưởng của tôi... là hành của tôi... là thức của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Hiền giả, là ước vọng trong tương lai.

Và này các Hiền giả, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai, "và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này các Hiền giả, là không ước vọng trong tương lai.

Và này các Hiền giả, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc, hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ; hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ, hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này các Hiền giả, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Và này các Hiền giả, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này các Hiền giả, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Như vậy, bạch Thế Tôn, con đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo. Con đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết.

-- Lành thay, lành thay, này Ananda! Lành thay, này Ananda! Ông đã thuyết thị, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ các Tỷ-kheo với bài thuyết pháp. Ông đã giảng Nhứt Dạ Hiền Giả, tổng thuyết và biệt thuyết.

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

-- Và này Ananda, thế nào là truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là hành của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy, "Như vậy là thức của tôi trong quá khứ", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Ananda, là truy tìm quá khứ.

Và này Ananda, thế nào là không truy tìm quá khứ? Vị ấy nghĩ: "Như vậy là sắc của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là thọ của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Như vậy là tưởng của tôi... Như vậy là hành của tôi... Như vậy là thức của tôi trong quá khứ", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Ananda, là không truy tìm quá khứ.

Và này Ananda, thế nào ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy là tưởng của tôi... là hành của tôi... là thức của tôi trong tương lai", và truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Ananda, là ước vọng trong tương lai.

Và này Ananda, thế nào là không ước vọng trong tương lai? Vị ấy nghĩ: "Mong rằng như vậy sẽ là sắc của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là thọ của tôi trong tương lai", và không truy tìm sự hân hoan trong ấy; "Mong rằng như vậy sẽ là tưởng... sẽ là hành... sẽ là thức của tôi trong tương lai, "và không truy tìm sự hân hoan trong ấy. Như vậy, này Ananda, là không ước vọng trong tương lai.

Và này Ananda, như thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Ananda, có kẻ vô văn phàm phu không đi đến các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh; không đi đến các bậc Chân nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp các bậc Chân nhân; quán sắc là tự ngã, hay quán tự ngã là có sắc, hay quán sắc là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong sắc; hay vị ấy quán thọ là tự ngã, hay quán tự ngã là có thọ, hay quán thọ là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thọ; hay vị ấy quán tưởng là trong tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng, hay vị ấy quán tưởng là tự ngã, hay quán tự ngã là có tưởng; hay vị ấy quán hành là tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là có hành, hay vị ấy quán hành là trong tự ngã, hay vị ấy quán tự ngã là trong hành; hay vị ấy quán thức là tự ngã, hay quán tự ngã là có thức, hay quán thức là trong tự ngã, hay quán tự ngã là trong thức. Như vậy, này Ananda, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Và này Ananda, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Ở đây, này Ananda, có vị Ða văn Thánh đệ tử đi đến các bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các bậc Thánh, đi đến các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị này không quán sắc là tự ngã, không quán tự ngã là có sắc, không quán sắc là trong tự ngã, không quán tự ngã trong sắc; không quán thọ... không quán tưởng... không quán hành... không quán thức là tự ngã, không quán tự ngã là có thức, không quán thức trong tự ngã, không quán tự ngã trong thức. Như vậy, này Ananda, là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng.
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển
Biết vậy, nên tu tập,
Hôm nay nhiệt tâm làm,
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được,
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm,
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Tương ưng Tỷ-kheo-ni - Bhikkhunī-saṃyutta (Kệ ghi nhận kinh nghiệm tu tập của tỳ-kheo-ni qua các thử thách/dao động)
  2. Kinh Phân biệt về Sự thật - Saccavibhanga sutta (Xá-lợi-phất phân tích Tứ Thánh đế theo cấu trúc chuẩn: biết như thật Khổ–Tập–Diệt–Đạo và "nhiệm vụ" tương ứng (liễu tri–đoạn–chứng–tu))
  3. Tiểu kinh Pháp hành - Cùladhammasamàdàna sutta (Phân loại bốn kiểu thọ trì pháp theo cảm thọ hiện tại (khổ/lạc) và quả báo tương lai (khổ/lạc), nhấn mạnh tiêu chuẩn lợi ích lâu dài)
  4. Kinh Dạy Vacchagotta về Lửa - Aggivacchagotta sutta (Phá khung câu hỏi về Như Lai sau chết; dùng ví dụ "lửa tắt" để tránh chấp thường–đoạn và ngã kiến)
  5. Thiên Cung Sự - Vimānavatthu (Tập các truyện kể (nhiều đoạn ở dạng kệ) về chư thiên và "thiên cung", thường mở ra từ một câu hỏi/đối thoại rồi giải thích nguyên nhân quá khứ. Trọng tâm nội dung là mối liên hệ giữa hành động (đặc biệt công đức) và quả báo tái sinh trong các cảnh giới an lạc)
  6. Kinh Sáu sáu - Chachakka sutta (Hệ thống hóa kinh nghiệm theo "sáu bộ sáu": nội xứ–ngoại xứ–thức–xúc–thọ–ái; làm rõ chuỗi căn–trần–thức–xúc–thọ–ái để cắt ái đúng mắt xích)
  7. Kinh Sandaka - Sandaka sutta (Nêu các lập trường khiến phạm hạnh "vô nghĩa" (phủ nhận nghiệp/đời sau, hoài nghi cực đoan…); làm rõ lý do giáo pháp đáng tin để thực hành)
  8. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 7: Như Lai Danh Hiệu (Các danh hiệu của Như Lai tương ứng với công đức)
  9. Kinh Ambattha (A-ma-trú) - Ambattha sutta (Chớ hãnh-diện về dòng-họ và giai-cấp)
  10. Đại kinh Người chăn bò - Mahàgopàlaka sutta (Dùng hình ảnh người chăn bò giỏi để ví các phẩm chất hộ trì giới–định–tuệ và các điều kiện giúp Tăng đoàn hưng thịnh)
  11. Lăng Nghiêm Kinh - 楞嚴經 (Kinh Lăng Nghiêm)
  12. Kinh Sáu Thanh tịnh - Chabbisodhana sutta (Đặt tiêu chuẩn cho việc tuyên bố chứng đắc (sáu mặt) để tránh nói quá/tự cao; nhấn mạnh chân thật, đúng thời và bảo hộ sự thanh tịnh cộng đồng)
  13. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VII) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 7, số chuyện từ 540 đến số 547)
  14. Trung Bộ Kinh - Majjhima-Nikāya (Tên gọi khác: Kinh Trung Bộ, 中部經)
  15. Kinh Tư lượng - Anumàna sutta (Dạy phương pháp tự kiểm bằng )
  16. Đại kinh Đoạn tận ái - Mahàtanhàsankhaya sutta (Khiển trách tà kiến về "thức" như thực thể thường hằng đi tái sinh và giải thích duyên khởi liên hệ thức–danh sắc và cấu trúc hình thành khổ)
  17. Chương mười một pháp - Ekādasakanipāta (Theo mười một pháp, thường là các nhóm lợi ích/kết quả hoặc điều kiện đầy đủ đưa đến thành tựu. Vấn đề quan trọng: nhấn mạnh chiều "quả" và "lợi ích" của đường tu như động lực thực hành)
  18. Kinh Khởi thế nhân bổn - Agganna sutta (Thế-giới: từ sơ-khai đến lúc thành bốn giai-cấp)
  19. Kinh Năm và Ba - Pancattaya sutta (Phân tích các kiến chấp siêu hình quanh "tự ngã", chỉ cơ chế kiến thủ đưa đến tranh luận và khổ não; khuyến ly chấp bằng tuệ tri như thật)
  20. Tiểu kinh Đoạn tận ái - Cùlatanhàsankhaya sutta (Dạy cách đoạn ái có hệ thống bằng việc quán sát các duyên sinh của ái và chấp thủ, nhận diện tiến trình khởi ái để tháo gỡ)
  21. Kinh Hành sanh - Sankhàrupapatti sutta (Nêu mối liên hệ giữa nghiệp (tư tác), định và ý hướng tái sinh; có thể dẫn đến cảnh giới tương ứng nhưng cảnh báo không chấp thủ mục tiêu hữu vi, chí hướng tối hậu vẫn là giải thoát)
  22. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 10: Bồ Tát Vấn Minh (Bồ tát hỏi về pháp môn ánh sáng trí tuệ)
  23. Đại kinh Xóm ngựa - Mahà-Assapura sutta (Trình bày tuần tự các chuẩn mực của đời sống xuất gia và )
  24. Kinh Potthapàda (Bố-sá-bà-lâu) - Potthapàda sutta (Cách diệt tận các tư-tưởng)
  25. Kinh Cankì - Cankì sutta (Phân biệt tin theo truyền thống/suy luận/lời đồn với tri kiến như thật; nhấn mạnh lộ trình tu học dần dần để tự chứng)
  26. Kinh Vekhanassa - Vekhanassa sutta (Bàn về "cái đẹp/cái thiện tối thượng"; chuyển tiêu chuẩn từ cảm thọ/đánh giá bên ngoài sang an lạc do thanh tịnh và ly tham)
  27. Kinh Hữu học - Sekha sutta (Phác họa lộ trình của bậc hữu học: giới, hộ trì căn, chánh niệm tỉnh giác, thiền định và tuệ giác theo tiến trình tu học)
  28. Tương Ưng Kosala - Kosala-saṃyutta (Các bài liên hệ vua Kosala, bàn về trị sự, đời sống và pháp hành)
  29. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VI) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 6, từ số chuyện 521 đến số 539)
  30. Kinh Tâm hoang vu - Cetokhila sutta (Chỉ ra các chướng ngại khiến tu thiền không tiến ()
  31. Chương sáu pháp - Chakkanipāta (Theo sáu pháp, thường gắn với sáu cửa kinh nghiệm và các nhóm sáu điều kiện tu tập/đối trị phiền não. Vấn đề quan trọng: nối giáo lý với quan sát thực tế (căn–trần–thức), thấy chỗ phát sinh dính mắc và cách phòng hộ)
  32. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 19: Thăng Dạ Ma Thiên Cung (Phật lên cõi trời Dạ Ma)
  33. Kinh Bạc-câu-la - Bakkula sutta (Bakkula thuật đời sống phạm hạnh thanh tịnh, tri túc và tinh cần bền bỉ; nêu gương "phạm hạnh giản dị" và sức mạnh của nội lực không phô trương)
  34. Kinh Tự hoan hỷ - Sampasàdanìya sutta (Lời ngưỡng-mộ Thế-Tôn, bực giác-ngộ vĩ-đại nhứt)
  35. Kinh A-nan Nhất dạ hiền giả - Anandabhaddekaratta sutta (Giải thích cho A-nan ý nghĩa "nhất dạ hiền giả": tuệ tri pháp hiện tại mà không dính mắc thời gian tâm lý; "sống với hiện tại" là không để tham–sân–si vận hành qua hồi tưởng/dự phóng)
  36. Kinh Kannakatthala - Kannakatthala sutta (Vua Pasenadi hỏi về xã hội–tôn giáo (đẳng cấp, nghiệp, tái sinh) và tri kiến; trả lời theo nhân quả và phẩm hạnh)
  37. Kinh Tiểu không - Cùlasunnata sutta (Đức Phật chỉ A-nan pháp "không" theo lộ trình: buông dần các tướng (tưởng) thô để vào tĩnh lặng vi tế và tuệ tri các pháp hữu vi không đáng chấp thủ)
  38. Kinh Vương tử Vô Úy - Abhayaràjakumàra sutta (Tiêu chuẩn lời nói của Như Lai: chân thật, lợi ích, đúng thời; minh họa nói "khó nghe" vì mục tiêu chữa lành và lợi ích lâu dài)
  39. Tương ưng Tỷ-kheo - Bhikkhu-saṃyutta (Nhóm bài dành cho/ghi nhận bối cảnh tăng chúng, nhấn các điểm cốt lõi tu học)
  40. Tương ưng Rādha - Rādha-saṃyutta (Đối thoại với Rādha, nhấn điểm then chốt cần hiểu đúng để tiến tu)
  41. Kinh Phạm Thiên cầu thỉnh - Brahmanimantanika sutta (Kể việc đến cõi Phạm thiên để phá chấp "Phạm thiên" thường hằng và nhấn mạnh các cảnh giới thiền vẫn vô thường, không phải cứu cánh giải thoát)
  42. Kinh Đại hội - Mahàsamaya sutta (Tên chư Thiên đến hội để chiêm-ngưỡng Phật)
  43. Tương ưng Sự thật - Sacca-saṃyutta (Trọng tâm về Tứ Thánh Đế và cách quán triệt chúng như cốt lõi giải thoát)
  44. Kinh Ratthapàla - Ratthapàla sutta (Chuyện xuất gia và trở về thăm nhà; nêu động cơ xuất ly dựa trên vô thường, không chỗ nương, không thỏa mãn và phải bỏ lại tất cả)
  45. Tương ưng Càn-thát-bà - Gandhabbakāya-saṃyutta (Nhóm bài liên hệ gandhabba, thiên về minh họa/đối thoại trong hệ thống tương ưng)
  46. Tiểu kinh Xóm ngựa - Cùla-Assapura sutta (Dạy ngắn gọn về hổ thẹn và tự chế; nhấn mạnh phạm hạnh chân thật thể hiện ở chánh hạnh và đoạn trừ bất thiện pháp)
  47. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 1: Thế Chủ Diệu Nghiêm (Sự trang nghiêm của cảnh giới Phật, chư thiên tôn kính)
  48. Kinh Đại Điển Tôn - Mahàgovinda sutta (So-sánh lối tu lên Trời và pháp-tu giải-thoát)
  49. Kinh Ca-diếp Sư tử hống - Kassapa-Sìhanàda sutta (Thiếu-sót của việc tu Phạm-chí khổ-hạnh quá ép-xác)
  50. Kinh Jàliya - Jàliya sutta (Phá chấp mạng căn và thân thể)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm Tác Phẩm Hán Nôm:

Ký hữu (Mạc mạc trần ai mãn thái không) - (寄友(漠漠塵埃滿太空)) | Nguyễn Du

Mời xem:

Đinh Sửu 1997 Nữ Mạng