Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Hán » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Trí Tịnh

Kinh Văn

KINH HOA NGHIÊM PHẨM 3: PHỔ HIỀN TAM MUỘI

(Phổ Hiền Bồ Tát nhập định, hiển bày cảnh giới tu hành)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Trí Tịnh

Thuộc bộ: , Hoa Nghiêm Kinh, (5)

Ngôn ngữ: Hán

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Dịch nghĩa:
Phổ Hiền Bồ Tát nhập định, hiển bày cảnh giới tu hành


Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh – Tập 10 – Số 279 (Hoa Nghiêm Bộ)
Buddhavatamsaka Mahavaipulya Sutra
大方廣佛華嚴經 – Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Ngài Bồ tát Long Thụ (thế kỷ II) thỉnh từ cung rồng Ta Kiệt La
Nước Trung Hoa – triều Đại Đường (618~907) – đời Võ Chu (690~705)
Đại sư Thật Xoa Nan Đà (652~710) Hán dịch từ Phạn văn năm 695
Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1917~2014) Việt dịch từ Hán văn
Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm 1983
daithua.com biên tập năm 2020

Phẩm 3:
PHỔ HIỀN TAM MUỘI


Lúc bấy giờ Phổ Hiền Bồ tát Ma ha tát ngồi trên tòa liên hoa tạng sư tử ở trước Phật, thừa thần lực của Phật mà nhập Tam ma địa tên là Nhứt thiết chư phật tỳ lô giá na như lai tạng thân, vào khắp tánh bình đẳng của tất cả Phật.

Có thể ở nơi Pháp giới thị hiện những ảnh tượng rộng lớn vô ngại đồng hư không, Pháp giới xoay vần đều theo vào, xuất sanh tất cả Tam ma địa.

Có thể bao nạp khắp mười phương Pháp giới, trí quang minh của tam thế chư Phật đều từ đây mà sanh những sự an lập trong mười phương đều có thể thị hiện, trùm chứa tất cả lực giải thoát của Phật và trí của chư Bồ tát

Có thể khiến tất cả quốc độ vi trần, đều có thể dung thọ vô biên Pháp giới, thành tựu biển công đức của tất cả Phật, hiển thị biển đại nguyện của Như Lai, bao pháp luân của tất cả chư Phật đều lưu thông hộ trì không đoạn tuyệt.

Như trong thế giới này, Phổ Hiền Bồ tát ở trước Phật nhập Tam ma địa đây, cũng vậy, khắp Pháp giới hư không giới, thập phương tam thế vi thế vô ngại quang minh rộng lớn.

Phật nhãn chỗ thấy được, Phật lực đến được, Phật thân hiện được, tất cả quốc độ, trong quốc độ này có bao vi trần, trong mỗi vi trần có thế giới vi trần số Phật độ, trong mỗi độ có thế giới vi trần số Phật, trước mỗi Đức Phật có thế giới vi trần Phổ Hiền Bồ tát cũng đều nhập Tam ma địa Nhứt thiết chư phật tỳ lô giá na như lai tạng thân này. Lúc đó, trước mỗi Phổ Hiền Bồ tát đều có thập phương tất cả chư Phật đều hiện ra.

Chư Phật này đồng khen rằng:

Lành thay lành thay! Này Thiện nam tử! Ông có thể nhập Nhứt thiết chư phật tỳ lô giá na như lai tạng thân này.

Này Phật tử! Đây là mười phương tất cả chư Phật đồng gia hộ cho ông, do vì nguyện lực của đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, mà cũng do nguyện lực tu tập tất cả Phật hạnh của ông.

Chính là ông có thể Chuyển pháp luân của chư Phật, khai hiển biến trí huệ của chư Phật, chiếu khắp những biển an lập ở mười phương không sót, khiến tất cả chúng sanh trừ tạp nhiễm được thanh tịnh, nhiếp khắp tất cả quốc độ không chấp trước, sâu vào cảnh giới của chư Phật không chướng ngại, hiện bày công đức của chư Phật, vào được thật tướng của các Pháp thân lớn trí huệ, quán sát tất cả Pháp môn, rõ biết căn của tất cả chúng sanh, hay thọ trì giáo văn của Như Lai.

Lúc đó thập phương tất cả chư Phật liền ban cho Phổ Hiền Bồ tát trí lực vào được nhất thiết trí tánh; ban cho trí vào Pháp giới vô biên vô lượng, ban cho trí thành tựu cảnh giới chư Phật, ban cho trí biết tất cả thế giới thành hoại, ban cho trí biết chúng sanh giới rộng lớn, ban cho trí trụ những Tam ma địa giải thoát thậm thâm vô sai biệt của chư Phật, ban cho trí nhập căn tánh của tất cả Bồ tát, ban cho trí biết ngôn ngữ của tất cả chúng sanh và từ biện Chuyển pháp luân, ban cho trí vào khắp thân Pháp giới, ban cho trí được thinh âm của tất cả Phật.

Như trong thế giới này Phổ Hiền Bồ tát ở trước Như Lai được chư Phật ban cho những trí như vậy, tất cả Phổ Hiền Bồ tát ở trong tất cả vi trần thế giới cũng được như vậy. Tại sao thế? Vì chứng Tam ma địa đó thời được như vậy.

Lúc đó thập phương chư Phật đều đưa tay hữu xoa đảnh của Phổ Hiền Bồ tát.

Tay Phật đủ tướng hảo trang nghiêm phóng lưới quang minh thơm sáng, đồng thời phát ra tiếng vi diệu và những sự thần thông tự tại. Tất cả Phổ Hiền nguyện hải của tất cả Bồ tát quá khứ, hiện tại, vị lai, những pháp luân thanh tịnh và ảnh tượng của tam thế chư Phật cũng đều hiện cả trong quang minh ấy. Tất cả Phổ Hiền Bồ tát trong tất cả thế giới vi trần cũng đều được xoa đảnh như vậy.

Bấy giờ, Phổ Hiền Bồ tát liền từ Tam ma địa ấy mà xuất, đồng thời cũng từ vi trần số Tam ma địa mà xuất:

Từ môn Tam ma địa trí biết tam thế niệm vô sai biệt mà xuất;

Từ môn Tam ma địa biết số vi trần trong tam thế tất cả Pháp giới mà xuất;

Từ môn Tam ma địa hiện tam thế tất cả Phật độ mà xuất;

Từ môn Tam ma địa hiện xá trạch của tất cả chúng sanh mà xuất;

Từ môn Tam ma địa biết tâm hải của tất cả chúng sanh mà xuất;

Từ môn Tam ma địa biết danh tự sai khác của tất cả chúng sanh mà xuất;

Từ môn Tam ma địa biết thập phương Pháp giới chỗ nơi đều sai khác mà xuất;

Từ môn Tam ma địa biết trong tất cả vi trần đều có vô biên Phật thân rộng lớn mà xuất;

Từ môn Tam ma địa diễn nói lý thú của tất cả pháp mà xuất.

Lúc Phổ Hiền Bồ tát từ những môn Tam ma địa như vậy mà xuất, chư Bồ tát đều được thế giới vi trần số Tam ma địa;

Được thế giới vi trần số Đà la ni, được thế giới vi trần số pháp phương tiện;

Được thế giới vi trần số môn biện tài, được thế giới vi trần số môn tu hành;

Được thế giới vi trần số trí quang minh công đức của chư Phật khắp chiếu Pháp giới;

Được thế giới vi trần số phương tiện lực trí huệ vô sai biệt của chư Phật;

Được thế giới vi trần số hải vân trong mỗi chân lông của tất cả chư Phật đều hiện các quốc độ;

Được thế giới vi trần số hải vân mỗi Bồ tát thị hiện từ Đâu Xuất Thiên Cung giáng sanh thành Phật Chuyển pháp luân nhập Niết bàn.

Lúc đó, tất cả thế giới ở mười phương, do thần lực của Phật và Đại Bồ tát do sức Tam ma địa của Phổ Hiền Bồ tát, nên các báu trang nghiêm đều lay động nhẹ, đồng thời vang ra diệu âm diễn nói các pháp.

Lại nơi trong chúng hội đạo tràng của tất cả Như Lai khắp rưới mười thứ mây đại ma ni vương: mây ma ni vương kim tràng vi diệu, mây ma ni vương quang minh chiếu sáng, mây ma ni vương bửu luân rũ xuống, mây ma ni vương bửu tạng hiện tượng Bồ tát, mây ma ni vương xưng dương danh hiệu Phật, mây ma ni vương quang minh chiếu sáng tất cả Phật độ đạo tràng, mây ma ni vương chiếu sáng mười phương tất cả biến hóa, mây ma ni vương ca ngợi công đức của tất cả Bồ tát, mây ma ni vương sáng chói như mặt nhựt, mây ma ni vương tiếng nhạc thích ý vang khắp mười phương.

Rưới khắp mười thứ mây ma ni vương như vậy rồi trong các chân lông của chư Phật đều phóng quang minh. Trong quang minh nói kệ rằng:

Phổ Hiền ở khắp các quốc độ
Ngồi bửu liên hoa chúng đều thấy
Tất cả thần thông đều hiện ra
Vô lượng Tam ma địa đều hay nhập.
Phổ Hiền thường dùng các thứ thân
Châu lưu Pháp giới đều đầy khắp
Tam ma địa phương tiện sức thần thông
Viên âm rộng nói đều vô ngại.
Trong tất cả cõi chư Phật ngự
Các môn Tam ma địa hiện thần thông
Mỗi mỗi thần thông đều khắp cùng
thập phương quốc độ không chỗ sót.
Như tất cả cõi Như Lai ngự
Trong sát trần kia cũng như vậy
Chỗ hiện Tam ma địa sự thần thông
Nguyện lực Tỳ Lô Giá Na Phật.
Phổ Hiền thân tướng như hư không
Nương chơn tánh ở chẳng phải cõi
Tùy lòng chúng sanh chỗ thích ưa
Thị hiện thân hình đồng tất cả.
Phổ Hiền an trụ các đại nguyện
Vô lượng thần thông sức tự tại
Tất cả Phật thân các quốc độ
Đều hiện hình kia mà đến đó.
Tất cả sát hải vô lượng biên
Phân thân ở đó cũng vô lượng
Cõi nước hiện ra đều trang nghiêm
Trong một sát na thấy nhiều kiếp.
Phổ Hiền an trụ tất cả cõi
Hiện đại thần thông hơn tất cả
Chấn động mười phương đều khắp cùng
Khiến chúng quan sát đều được thấy.
Tất cả công Đức Phật trí lực
Các môn đại pháp đều thành đủ
Dùng các Tam ma địa phương tiện môn
Bày hạnh bồ đề mình đã tập.
Tự tại như vậy bất tư nghì
thập phương quốc độ đều thị hiện
Vì bày Tam ma địa đã khắp vào
Trong mây Phật quang khen công đức.

Lúc đó, tất cả chúng Bồ tát đều hướng về phía Phổ Hiền chấp tay chiêm ngưỡng, thừa thần lực của Phật đồng nói kệ rằng:

Từ các Phật pháp mà sanh ra
Cũng do Như Lai nguyện lực khởi
Chơn như bình đẳng tạng hư không
Pháp thân của ngài đã nghiêm tịnh.
Tất cả Phật độ trong chúng hội
Phổ Hiền ở khắp nơi trong đó
Quang minh công đức bực trí hải
Chiếu khắp mười phương đều được thấy.
Phổ Hiền công đức biển rộng lớn
Quá khắp mười phương gần gũi Phật
Tất cả vi trần có các cõi
Đều đến được kia mà hiện rõ.
Phật tử chúng tôi thường thấy Ngài
Gần gũi tất cả chư Như Lai
Trụ trong Tam ma địa cảnh chơn thật
Số kiếp vi trần tất cả cõi.
Phật tử hay dùng thân phổ biến
Đều đến thập phương các cõi nước
Biển cả chúng sanh đều tế độ
Pháp giới vi trần đều vào cả.
Vào nơi Pháp giới tất cả trần
Thân đó vô tận không sai khác
Ví như hư không đều khắp cùng
Diễn nói Như Lai pháp rộng lớn.
Bực tất cả công đức sáng chói
Rộng lớn như mây sức thù thắng
Trong biển chúng sanh đều qua đến
Nói công hạnh Phật pháp vô đẳng.
Vì độ chúng sanh nơi kiếp hải
Thắng hạnh Phổ Hiền đều tu tập
Diễn nói các pháp như mây to
Thinh âm quảng đại đều nghe khắp.
Quốc độ thế nào mà xuất hiện
Chư Phật thế nào mà xuất hiện
Nhẫn đến tất cả biển chúng sanh
Mong theo nghĩa đó nói như thật.
Trong đây vô lượng vô biên chúng
Ở trước Đức Phật đều cung kính
Vì chuyển thanh tịnh diệu pháp luân
Tất cả chư Phật đều tùy hỉ.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Kinh Subha (Tu-bà) - Subha sutta (Ba Thánh-uẩn: Giới, Định, Huệ)
  2. Kinh Tổng thuyết và Biệt thuyết - Uddesavibhanga sutta (Minh họa mô thức truyền thừa "tóm tắt → khai triển": một tổng thuyết ngắn được biệt thuyết chi tiết để làm rõ ý nghĩa thực hành; khuyến nối nguyên tắc khái quát với thao tác quán sát cụ thể)
  3. Kinh Assalàyana - Assalàyana sutta (Tranh luận chống học thuyết đẳng cấp; bác bỏ "thanh tịnh bẩm sinh", khẳng định giá trị theo nghiệp hạnh/giới hạnh)
  4. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (III) - Jàtaka (Tiếp theo Chuyện Tiền Thân Đức Phật 2, từ chuyện 264 đến chuyện 395)
  5. Kinh Lomasakangiya Nhất dạ hiền giả - Lomasakangiyabhaddekaratta sutta (Nhắc bài kệ "nhất dạ hiền giả" liên hệ trường hợp Lomasakaṅgiya; nhấn mạnh lực giải thoát nằm ở tuệ tri hiện pháp, không trôi theo ký ức và dự phóng)
  6. Kinh Ghatìkàra - Ghatìkàra sutta (Câu chuyện thời Phật Kassapa về cư sĩ thợ gốm hộ trì cha mẹ và Tam bảo; nêu hình mẫu công hạnh tại gia)
  7. Kinh Khu rừng - Vanapattha sutta (Dạy cách xét trú xứ: nơi làm tăng trưởng thiện pháp thì nên ở, nơi gây bất an và tán loạn thì nên rời)
  8. Tương Ưng Thiên Tử - Devaputta-saṃyutta (Đối thoại/kệ với các "thiên tử" (devaputta), thường nêu vấn đề đạo đức và tu tập)
  9. Tương ưng Ác Ma - Māra-saṃyutta (Các đoạn đối thoại/kệ về Ma quấy nhiễu và cách đối trị)
  10. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 25: Thập Hồi Hướng (Mười cách đem công đức hồi hướng về đạo quả)
  11. Kinh Potthapàda (Bố-sá-bà-lâu) - Potthapàda sutta (Cách diệt tận các tư-tưởng)
  12. Thay Lời Tựa – Kinh Hoa Nghiêm
  13. Kinh Sonadanda (Chủng Đức) - Sonadanda sutta (Thế nào mới xứng danh là Bà-la-môn)
  14. Tương ưng Giác chi - Bojjhaṅga-saṃyutta (Trình bày bảy giác chi và điều kiện nuôi dưỡng/viên mãn các yếu tố giác ngộ)
  15. Tương ưng Thiền - Jhāna-saṃyutta (Nhóm bài về thiền (jhāna): điều kiện thành tựu và lợi ích đối với tuệ quán)
  16. Tương ưng Vô thủy - Anamatagga-saṃyutta (Nhấn mạnh luân hồi vô thủy và tính cấp thiết của giải thoát)
  17. Chương mười một pháp - Ekādasakanipāta (Theo mười một pháp, thường là các nhóm lợi ích/kết quả hoặc điều kiện đầy đủ đưa đến thành tựu. Vấn đề quan trọng: nhấn mạnh chiều "quả" và "lợi ích" của đường tu như động lực thực hành)
  18. Kinh Sợ hãi khiếp đảm - Bhayabherava sutta (Trình bày các điều kiện vượt sợ hãi trong đời sống viễn ly (giới thanh tịnh, tinh tấn, nhiếp phục tâm) và kể lại kinh nghiệm tu hành trước giác ngộ)
  19. Tương ưng Rāhula - Rāhula-saṃyutta (Lời dạy liên hệ Rāhula: tự quán sát, học pháp và thực hành đúng căn cơ)
  20. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 12: Hiền Thủ (Ca ngợi người tu hành tinh tấn, vững chãi như núi)
  21. Kinh A-nan Nhất dạ hiền giả - Anandabhaddekaratta sutta (Giải thích cho A-nan ý nghĩa "nhất dạ hiền giả": tuệ tri pháp hiện tại mà không dính mắc thời gian tâm lý; "sống với hiện tại" là không để tham–sân–si vận hành qua hồi tưởng/dự phóng)
  22. Trung Bộ Kinh - Majjhima-Nikāya (Tên gọi khác: Kinh Trung Bộ, 中部經)
  23. Kinh Madhurà - Madhurà sutta (Bác bỏ ưu thế đẳng cấp; khẳng định "cao quý" quyết định bởi nghiệp hạnh và hành vi đạo đức, không bởi huyết thống)
  24. Tương ưng Thôn trưởng - Gāmaṇi-saṃyutta (Các bài về thôn trưởng/cộng đồng: đạo đức, nghiệp và ứng xử xã hội)
  25. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 4: Thế Giới Thành Tựu (Mô tả cấu trúc và sự hình thành của thế giới hoa tạng)
  26. Kinh Vô tránh phân biệt - Aranavibhanga sutta (Dạy pháp "vô tránh": nói và trình bày giáo pháp sao cho không kích hoạt đối đầu, không rơi cực đoan; dùng phương tiện ngôn ngữ tùy tục nhưng không rời chân lý, nhằm giảm chấp thủ)
  27. Kinh Bát thành - Atthakanàgara sutta (Trình bày nhiều "cửa giải thoát": an trú các tầng thiền rồi quán vô thường để đoạn tận lậu hoặc (hoặc thành tựu chứng đắc cao))
  28. Chương mười pháp - Dasakanipāta (Theo mười pháp, các nhóm "mười điều" có tính tổng hợp (chuẩn mực đạo đức, yếu tố ổn định tu tập…). Vấn đề quan trọng: tính "tổng kiểm" (checklist toàn diện) cho tự rà soát (giới–phòng hộ–định–tuệ))
  29. Kinh Chánh tri kiến - Sammàditthi sutta (Trình bày nền tảng của chánh kiến)
  30. Kinh Trường Trảo - Dìghanakha sutta (Phân tích cơ chế chấp kiến "tất cả/không gì"; hướng về quán cảm thọ và các pháp hữu vi như vô thường–khổ–vô ngã)
  31. Kinh Kìtàgiri - Kìtàgiri sutta (Bàn về sai lệch trong nếp sống và các hạng Thánh đệ tử; nhấn mạnh kỷ luật và tinh tấn để không suy thoái trong Tăng)
  32. Kinh Nhập tức, Xuất tức niệm (Kinh Quán niệm hơi thở) - Anàpànasati sutta (Dạy 16 bước niệm hơi thở (thân–thọ–tâm–pháp) và nối trực tiếp với Tứ niệm xứ, Thất giác chi, minh và giải thoát; văn bản nền tảng thiền hơi thở)
  33. Kinh Kannakatthala - Kannakatthala sutta (Vua Pasenadi hỏi về xã hội–tôn giáo (đẳng cấp, nghiệp, tái sinh) và tri kiến; trả lời theo nhân quả và phẩm hạnh)
  34. Kinh Phân biệt cúng dường - Dakkhinàvibhanga sutta ( Phân loại bố thí/cúng dường theo động cơ tâm người cho và phẩm hạnh người nhận; nêu các trường hợp đưa đến phước báo lớn nhỏ khác nhau, định nghĩa "công đức" trên nền đạo đức–tâm lý)
  35. Tiểu kinh Dụ lõi cây - Cùlasàropama sutta (Trình bày ngắn gọn chủ đề "lõi cây": cảnh báo nhầm phương tiện là cứu cánh và khuyến khích hướng đến mục tiêu đoạn tận lậu hoặc)
  36. Thủ Lăng Nghiêm Kinh Quyển 1 - 首楞嚴經卷一 (Kinh Thủ Lăng Nghiêm quyển số 1 (10 quyển))
  37. Kinh Kevaddha (Kiên Cố) - Kevaddha sutta (Ba loại Thần-thông, thắc-mắc về tứ-đại)
  38. Kinh Nghĩ như thế nào - Kinti sutta (Nêu nguyên nhân tranh chấp và cách sống hòa hợp trong Tăng: cùng tán thán–cùng hành trì–cùng tuệ tri, xử lý bất đồng trên nền Pháp–Luật)
  39. Trưởng lão ni kệ - Therīgāthā (Tuyển tập kệ gán cho các trưởng lão ni; nhiều bài là lời tự thuật về hoàn cảnh đời sống, chuyển biến tâm lý và kinh nghiệm tôn giáo của nhân vật. Nội dung cung cấp tư liệu về tiếng nói nữ giới trong văn học Phật giáo sơ kỳ và các mô-típ thường gặp trong kệ tụng (khổ cảnh–chuyển hóa–tuyên ngôn))
  40. Kinh Dạy Vacchagotta về Tam Minh - Tevijjavacchagotta sutta (Bác gán ghép "toàn tri liên tục"; xác định Như Lai là bậc thành tựu tam minh (túc mạng, thiên nhãn, lậu tận))
  41. Kinh Bất đoạn - Anupada sutta (Tán dương Xá-lợi-phất tuệ tri "không gián đoạn" trong từng tầng thiền/chứng đắc; minh họa mô hình kết hợp định sâu và tuệ quán vi tế)
  42. Chương chín pháp - Navakanipāta (Theo chín pháp, thường là các nhóm điều kiện/nhân duyên và cách "xếp lớp" yếu tố theo mức độ. Vấn đề quan trọng: tu học là tiến trình tích lũy điều kiện, không phải "một bước nhảy" bằng niềm tin)
  43. Kinh Subha - Subha sutta (Tôn giả Ānanda tóm lược cốt lõi giáo pháp theo tam học (giới–định–tuệ) và ý nghĩa thanh tịnh, phù hợp người mới tìm hiểu)
  44. Chương hai pháp - Dukanipāta (Các kinh triển khai theo cặp đôi (hai pháp) — hai điều cần thành tựu/đoạn trừ, hai thái cực đạo đức–tâm lý, hoặc hai điều kiện tu tập. Vấn đề quan trọng: làm rõ tư duy "đối trị" và "đi kèm", chuyển từ hiểu khái niệm sang lựa chọn hành động cụ thể)
  45. Kinh Bẫy mồi - Nivàpa sutta (Dụ ngôn "mồi bẫy" để chỉ dục lạc và cạm bẫy của Ma, phân loại các phản ứng trước cám dỗ và nêu lối thoát bằng tỉnh giác, viễn ly)
  46. Kinh Potaliya - Potaliya sutta (Tái định nghĩa "xuất ly": không chỉ rút khỏi việc đời mà là đoạn trừ các tập khí bất thiện và thiết lập chuẩn mực sống đưa đến an tịnh)
  47. Kinh Ưu-ba-ly - Upàli sutta (Đối thoại chuyển trọng tâm từ tranh luận sang tiêu chuẩn thiện–bất thiện theo nghiệp thân–khẩu–ý; dẫn đến khởi tín và quy y)
  48. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 11: Tịnh Hạnh (140 lời nguyện, hướng dẫn giữ tâm thanh tịnh trong đời thường (Dụng tâm))
  49. Kinh An trú tầm - Vtakkasanthàna sutta (Năm phương pháp nhiếp phục tầm bất thiện (đổi đề mục, quán nguy hiểm, không tác ý, điều phục thân tâm, dùng ý chí khi cần).)
  50. Kinh Khởi thế nhân bổn - Agganna sutta (Thế-giới: từ sơ-khai đến lúc thành bốn giai-cấp)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm:

阿世
a thế

Xem thêm:

[ wěi ]

744B, tổng 13 nét, bộ ngọc 玉 (+9 nét)

Nghĩa: br />ngọc v

Quảng Cáo

cửa nhôm kính quận 3