Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Hán » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Trí Tịnh

Kinh Văn

KINH HOA NGHIÊM PHẨM 14: TU DI SƠN ĐẢNH KỆ TÁN

(Bồ tát ca ngợi công đức Phật bằng kệ)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Trí Tịnh

Thuộc bộ: , Hoa Nghiêm Kinh, (16)

Ngôn ngữ: Hán

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Dịch nghĩa:
Bồ tát ca ngợi công đức Phật bằng kệ


Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh – Tập 10 – Số 279 (Hoa Nghiêm Bộ)
Buddhavatamsaka Mahavaipulya Sutra
大方廣佛華嚴經 – Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Ngài Bồ tát Long Thụ (thế kỷ II) thỉnh từ cung rồng Ta Kiệt La
Nước Trung Hoa – triều Đại Đường (618~907) – đời Võ Chu (690~705)
Đại sư Thật Xoa Nan Đà (652~710) Hán dịch từ Phạn văn năm 695
Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1917~2014) Việt dịch từ Hán văn
Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm 1983
daithua.com biên tập năm 2020

TU DI SƠN ĐẢNH KỆ TÁN


Lúc bấy giờ, do thần lực của Đức Phật, từ ngoài trăm phật sát vi trần số quốc độ, mười phương đều có một Đại Bồ tát, mỗi vị đều cùng một phật sát vi trần số Bồ tát đồng vân tập đến.

Mười Đại Bồ tát là: pháp Huệ Bồ tát, Nhứt Thiết Huệ Bồ tát, Thắng Huệ Bồ tát, Công Đức Huệ Bồ tát, Tinh Tấn Huệ Bồ tát, Thiện Huệ Bồ tát, Trí Huệ Bồ tát, Chơn Thiệt Huệ Bồ tát, Vô Thượng Huệ Bồ tát, Kiên Cố Huệ Bồ tát.

Cõi nước của các ngài theo thứ tự là: Nhơn Đà La Hoa thế giới, Ba Đầu Ma Hoa thế giới, Bửu Hoa thế giới, Ưu Bát La Hoa thế giới, Kim Cang Hoa thế giới, Diệu Hương Hoa thế giới, Duyệt Ý Hoa thế giới, A Lô Hoa thế giới, Na La Đà Hoa thế giới, Hư Không Hoa thế giới.

Chư Phật ngự trị nơi đó theo thứ tự là: Thù Đặc Nguyệt Phật, Vô Tận Nguyệt Phật, Bất Động Nguyệt Phật, Phong Nguyệt Phật, Thủy Nguyệt Phật, Giải Thoát Nguyệt Phật, Vô Thượng Nguyệt Phật, Tinh Tú Nguyệt Phật, Thanh Tịnh Nguyệt Phật, Minh Liễu Nguyệt Phật.

Chư Bồ tát này đến đảnh lễ chơn Phật, rồi tùy phương đến, đều riêng hóa hiện tòa sư tử Tỳ lô giá na tạng mà ngồi kiết già trên đó.

Như chư Bồ tát vân tập đến đảnh núi Tu Di nơi thế giới này, thập phương thế giới cũng đều như thế cả, đến danh hiệu, quốc độ và chư Phật cũng đồng.

Lúc đó Đức Thế Tôn, từ nơi các ngón của hai chân phóng trăm ngàn ức quang minh màu đẹp chiếu khắp trong cung của Đế Thích ở mười phương thế giới, Phật và đại chúng đều hiển hiện cả.

Pháp Huệ Bồ tát thừa oai thần của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Phật phóng tịnh quang minh
Thấy khắp tất cả Phật
Đảnh núi Tu Di Vương
Ở trong điện Diệu Thắng.
Tất cả Thiên Đế Thích
Thỉnh Phật vào cung điện
Đều nói mười kệ hay
Ca ngợi chư Như Lai.
Trong các đại hội ấy
Bao nhiêu chúng Bồ tát
Đều từ mười phương đến
Hóa tòa mà an tọa.
Bồ tát trong hội đó
Danh hiệu đồng chúng tôi,
Những cõi từ đó đến
Danh tự cũng vẫn đồng;
Bổn quốc chư Như Lai
Hồng danh đều cũng đồng,
Bồ tát nơi bổn Phật
Tịnh tu hạnh vô thượng.
Đại chúng nên quan sát
Như Lai tự tại lực
Tất cả Diêm Phù Đề
Đều nói Phật tại đấy.
Chúng ta nay thấy Phật
Trụ nơi đảnh Tu Di
thập phương cũng như vậy
Như Lai tự tại lực.
Trong mỗi mỗi thế giới
Phát tâm cầu phật đạo
Nương nơi nguyện như vậy
Tu tập hạnh bồ đề.
Phật dùng nhiều thân hình
Du hành khắp thế gian
Pháp giới không chướng ngại
Không ai trắc lượng được.
Huệ quang hằng chiếu khắp
Đời tối đều trừ diệt,
Tất cả không sánh bằng
Thế nào lường biết được!

Nhứt Thiết Huệ Bồ tát, thừa oai lực của Đức Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Giả sử trăm ngàn kiếp
Thường thấy đức Như Lai
Chẳng y chơn thật nghĩa
Mà quán đấng Cùu Thế,
Người này chấp lấy tướng
Thêm lớn lưới mê lầm
Giam trói ngục sanh tử
Đui mù, chẳng thấy Phật.
Quan sát nơi các pháp
Đều không có tự tánh
Tướng nó, vốn sanh diệt
Chỉ là danh thuyết giả.
Tất cả pháp vô sanh
Tất cả pháp vô diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.
Pháp tánh vốn không tịch
Vô thủ, cũng vô kiến
Tánh không, tức là Phật
Chẳng thể nghĩ lường được.
Nếu biết tất cả pháp
Thể tánh đều như vậy
Người này thời chẳng bị
Phiền não làm nhiễm trước.
Phàm phu thấy các pháp
Chỉ chuyển theo tướng giả
Chẳng rõ pháp vô tướng
Do đây chẳng thấy Phật.
Đức Phật lìa ba thời
Các tướng đều đầy đủ
Trụ nơi vô sở trụ
Cùng khắp mà bất động.
Tôi quán tất cả pháp
Thảy đều được rõ ràng
Nay thấy đức Như Lai
Quyết định không nghi ngờ.
Pháp Huệ trước đã nói
Như Lai chơn thiệt tánh,
Tôi từ đó rõ biết
Bồ đề khó nghĩ bàn.

Thắng Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Như Lai đại trí huệ
Hi hữu không sánh bằng
Tất cả những thế gian
Tư duy chẳng đến được.
Phàm phu vọng quan sát
Chấp tướng chẳng đúng lý
Phật lìa tất cả tướng
Chẳng phải họ biết được.
Kẻ vô tri mê lầm
Vọng chấp tướng Ngũ ấm
Chẳng biết chơn tánh kia
Người này chẳng thấy Phật.
Rõ biết tất cả pháp
Đều không có tự tánh
Hiểu pháp tánh như vậy
Thời thấy Lô Xá Na.
Vì do tiền Ngũ ấm
Có hậu uẩn tương tục
Rõ biết nơi tánh này
Thấy Phật khó nghĩ bàn.
Ví như báu trong tối
Không đèn thời chẳng thấy
Phật pháp không người nói
Dầu huệ chẳng biết được.
Cũng như mắt bị lòa
Chẳng thấy màu xinh đẹp
Như vậy tâm bất tịnh
Chẳng thấy các phật pháp.
Lại như mặt trời sáng
Kẻ mù không thấy được
Tâm không có trí huệ
Trọn chẳng thấy chư Phật.
Nếu chữa hết bịnh lòa
Bỏ lìa lòng tưởng sắc
Chẳng thấy nơi các pháp
Thời thấy được Như Lai.
Nhứt Thiết Huệ đã nói
Chư Phật Bồ Đề pháp
Tôi nghe lời ngài nói
Được thấy Lô Xá Na.

Công Đức Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Các pháp không chơn thật
Vọng chấp là chơn thật
Cho nên các phàm phu
Luân hồi ngục sanh tử.
Nơi ngôn từ thuyết pháp
Tiểu trí vọng phân biệt
Vì thế sanh chướng ngại
Chẳng rõ được tự tâm
Đâu biết được chánh đạo
Họ do huệ điên đảo
Thêm lớn mọi điều ác.
Chẳng thấy các pháp không
Hằng thọ khổ sanh tử
Người này chưa có được
Pháp nhãn thanh tịnh vậy.
Xưa kia tôi thọ khổ
Vì tôi chẳng thấy Phật,
Nên phải tịnh pháp nhãn
Xem kia chỗ đáng thấy.
Nếu được thấy nơi Phật
Thời tâm không chấp lấy
Người này thời thấy được
Pháp của Phật đã biết.
Nếu thấy Phật chơn pháp
Thời gọi bực đại trí
Người này có tịnh nhãn
Hay quan sát thế gian.
Không thấy chính là thấy
Hay thấy tất cả pháp
Nơi pháp nếu có thấy
Đây thời là không thấy.
Tất cả các pháp tánh
Không sanh cũng không diệt
Lạ thay đấng Đạo sư
Tự giác hay giác tha.
Ngài Thắng Huệ đã nói
Pháp của Như Lai ngộ
Chúng tôi nghe Ngài nói
Biết được Phật chơn tánh.

Tinh Tấn Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Nếu trụ nơi phân biệt
Thời hư thanh tịnh nhãn
Thêm ngu si, tà kiến
Trọn chẳng thấy được Phật.
Nếu rõ được tà pháp
Như thiệt chẳng điên đảo,
Biết vọng vốn tự chơn
Thấy Phật thời thanh tịnh.
Có thấy, thời là nhơ
Đây thời chưa phải thấy
Xa lìa các Kiến chấp
Như vậy mới thấy Phật.
Pháp ngôn ngữ thế gian
Chúng sanh vọng phân biệt
Biết thế đều vô sanh
Mới là thấy thế gian.
Nếu thấy “thấy thế gian”
“Thấy” là tướng thế gian
Như thiệt đồng không khác
Đây gọi người chơn kiến.
Nếu thấy đồng không khác
Nơi vật chẳng phân biệt
Thấy này lìa phiền não
Vô lậu được tự tại.
Chỗ chư Phật khai thị
Tất cả pháp phân biệt
Đây đều chẳng thể được
Vì pháp tánh thanh tịnh.
Pháp tánh vốn thanh tịnh
Vô tướng như hư không
Tất cả không năng thuyết
Người trí quán như vậy.
Xa lìa nơi pháp tưởng
Chẳng thích tất cả pháp
Đây cũng không chỗ tu
Thấy được Đại Mâu Ni.
Như ngài Đức Huệ nói
Đây gọi là thấy Phật;
Chỗ có tất cả hạnh
Thể tánh đều tịch diệt.

Lúc đó Thiện Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Hi hữu đại dũng kiện
Vô lượng chư Như Lai
Ly cấu tâm giải thoát
Tự độ hay độ người.
Tôi thấy Thế gian Đăng
Như thật chẳng điên đảo
Như trong vô lượng kiếp
Bực đủ trí chỗ thấy.
Tất cả hạnh phàm phu
Đều mau về diệt tận
Tánh nó như hư không
Nên nói là vô tận.
Người trí nói vô tận
Đây cũng không chỗ nói.
Vì tự tánh vô tận
Được có nan tư tận.
Trong chỗ nói vô tận
Không chúng sanh được có
Biết chúng tánh như vậy
Thời thấy Đại Danh Xưng.
Không thấy nói là thấy
Vô sanh nói chúng sanh
Hoặc thấy, hoặc chúng sanh
Rõ biết không thể tánh.
Năng kiến cùng sở kiến
Kiến giả đều khiển trừ,
Chẳng hoại nơi chơn pháp
Người này rõ biết Phật.
Nếu người rõ biết Phật
Và pháp của Phật nói
Thời hay chiếu thế gian
Như Phật Lô Giá Na.
Chánh giác khéo khai thị
Đạo một pháp thanh tịnh,
Đại Sĩ tinh tấn huệ
Diễn nói vô lượng pháp.
Hoặc có hoặc không có
Tưởng niệm này đều trừ
Như thế thấy được Phật
An trụ nơi thiệt tế.

Lúc đó Trí Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mườI phương rồi nói kệ rằng:

Tôi nghe pháp tối thắng
Liền sanh trí huệ quang
Chiếu khắp mười phương cõi
Đều thấy tất cả Phật.
Trong đây không chút vật
Chỉ có danh tự giả
Nếu chấp có ngã nhơn
Thời là vào đường hiểm.
Những phàm phu chấp trước
Chấp thân là thiệt có
Phật chẳng phải sở thủ
Họ trọn chẳng thấy được.
Người này không huệ nhãn
Chẳng thể thấy được Phật
Ở trong vô lượng kiếp
Lưu chuyển biển sanh tử.
Hữu tránh nói sanh tử
Vô tránh là Niết bàn
Sanh tử và Niết bàn
Cả hai chẳng nói được.
Nếu theo danh tự giả
Chấp lấy hai pháp này
Người này không đúng thật
Chẳng biết Phật diệu đạo.
Nếu móng tưởng như vầy:
“Đây Phật, đây tối thắng”
Điên đảo chẳng phải thật
Chẳng thấy được Chánh giác.
Biết được thật thể này
Tướng chơn như tịch diệt
Thời thấy đấng Chánh Giác
Vượt khỏi đường ngữ ngôn.
Ngôn ngữ nói các pháp
Chẳng hiển được thiệt tướng
Bình đẳng mới thấy được
Như pháp, Phật cũng vậy.
Thời quá khứ chư Phật
Vị lai và hiện tại
Dứt hẳn gốc phân biệt
Thế nên gọi là Phật.

Chơn Thật Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mườI phương rồi nói kệ rằng:

Thà thọ khổ địa ngục
Được nghe hồng danh Phật
Chẳng thích vô lượng vui
Mà chẳng nghe danh Phật.
Sở dĩ nơi thời xưa
Chịu khổ vô số kiếp
Lưu chuyển trong sanh tử
Vì chẳng nghe danh Phật.
Với pháp chẳng điên đảo
Mà hiện chứng như thật
Lìa các tướng hòa hiệp
Gọi là Vô Thượng Giác.
Hiện chẳng phải hòa hiệp
Khứ, lai cũng như vậy
Tất cả pháp vô tướng
Đây là chơn thể Phật
Nếu quán được như vậy
Các pháp nghĩa thậm thâm
Thời thấy tướng chơn thật
Pháp thân của chư Phật.
Nơi thật thấy chơn thật
Chẳng thật thấy chẳng thật
Hiểu rốt ráo như vậy
Cho nên gọi là Phật.
Phật pháp chẳng giác được
Rõ đây gọi “giác pháp”
Chư Phật tu như vậy
Một pháp bất khả đắc.
Biết do một nên nhiều
Biết do nhiều nên một
Các pháp không chỗ tựa
Chỉ do hòa hiệp khởi.
Không năng tác, sở tác
Chỉ từ nghiệp tưởng sanh
Tại sao biết như vậy
Vì khác đây không có.
Tất cả pháp vô trụ
Định xứ bất khả đắc
Chư Phật trụ nơi đây
Rốt ráo không dao động.

Vô Thượng Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mườI phương rồi nói kệ rằng:

Đấng đại thừa vô thượng
Xa lìa tưởng chúng sanh
Không có ai hơn được
Nên hiệu là Vô Thượng.
Chỗ chư Phật đã được
Vô tác, vô phân biệt
Thô thần thông vô sở hữu
Vi tế cũng như vậy.
Cảnh chư Phật sở hành
Trong đó không có số
Là chơn pháp của Phật.
Như Lai quang chiếu khắp
Diệt trừ những tối tăm
Quang này chẳng có chiếu
Cũng chẳng phải không chiếu.
Nơi pháp không chỗ chấp
Không niệm cũng không nhiễm
Không trụ không xứ sở
Chẳng hoại nơi pháp tánh.
Trong đây không có hai
Cũng lại không có một
Bực đại trí thấy đúng
Kheó an trụ thật lý.
Trong không, không có hai
Không hai cũng như vậy
Tam giới tất cả không
Là chỗ thấy chư Phật.
Phàm phu không hay biết
Phật khiến trụ Chánh pháp
Các pháp vô sở trụ
Ngộ đây thấy tự thân.
Chẳng thân mà nói thân
Chẳng khởi mà hiện khởi
Không thân cũng không thấy
Là Phật thân vô thượng.
Như ngài Thật Huệ nói
Chư Phật diệu pháp tánh
Nếu người nghe pháp này
Sẽ được thanh tịnh nhãn.

Lúc đó Kiên Cố Huệ Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Vĩ đại! quang minh lớn
Bực vô thượng dũng kiện
Vì lợi ích quần sanh
Mà xuất hiện thế gian.
Phật dùng tâm đại bi
Quan sát khắp chúng sanh
Thấy ở trong ba cõi
Luân hồi thọ nhiều khổ.
Chỉ trừ đấng Chánh Giác
Đấng Đạo sư đủ sức
Tất cả các Trời Người
Không ai cứu hộ được.
Nếu chư Phật Bồ tát
Chẳng xuất hiện thế gian
Thời không một chúng sanh
Có thể được an lạc.
Như Lai đẳng chánh giác
Và các chúng thánh Hiền
Xuất hiện ở thế gian
Cho chúng sanh được vui.
Nếu ai thấy Như Lai
Vì được lợi hành lớn
Nghe hiệu Phật sanh tin
Thời là pháp thế gian.
Chúng tôi thấy Như Lai
Vì được lợi ích lớn
Nghe diệu pháp như vậy
Đều sẽ thành Phật đạo.
Chư Bồ tát quá khứ
Do thần lực của Phật
Được huệ nhãn thanh tịnh
Rõ cảnh giới chư Phật.
Nay thấy Lô Xá Na
Càng thêm thanh tịnh tánh
Phật trí không ngằn mé
Diễn thuyết chẳng thể hết.
Thắng Huệ Bồ tát thảy
Và tôi Kiên Cố Huệ
Trong vô số ức kiếp
Cũng nói chẳng thể hết.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Đại kinh Nghiệp phân biệt - Mahàkammavibhanga (Bàn sự phức tạp của quả nghiệp: không thể kết luận vội dựa trên hiện tượng (làm ác vẫn "tốt", làm thiện vẫn "khổ"); nghiệp cần hiểu trong bối cảnh nhiều duyên và nhiều thời đoạn)
  2. Kinh Đại Niệm xứ - Mahàsatipatthana sutta (Bốn phép quán-niệm: thân, thọ, tâm, pháp)
  3. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 22: Vô Tận Tạng (Mười kho tàng công đức vô tận)
  4. Chương bốn pháp - Catukkanipāta (Trình bày các nhóm bốn pháp, phù hợp nhiều khuôn giáo lý "tứ phần". Vấn đề quan trọng: làm quen lối tư duy "liệt kê có hệ thống", liên kết pháp học với khung thực hành rõ ràng)
  5. Kinh Assalàyana - Assalàyana sutta (Tranh luận chống học thuyết đẳng cấp; bác bỏ "thanh tịnh bẩm sinh", khẳng định giá trị theo nghiệp hạnh/giới hạnh)
  6. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 10: Bồ Tát Vấn Minh (Bồ tát hỏi về pháp môn ánh sáng trí tuệ)
  7. Tiểu kinh Rừng sừng bò - Cùlagosinga sutta (Nêu hình mẫu đời sống rừng hòa hợp, ít lời và tinh tấn, lấy thiền định và phạm hạnh làm trọng)
  8. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na - Punnovàda sutta (Đức Phật thử sức Puṇṇa bằng các tình huống bị mắng–đánh–hại, rồi dạy thái độ nhẫn nhục và từ tâm khi hoằng hóa; đạo lực nằm ở vô sân và tuệ tri đúng pháp trước nghịch duyên)
  9. Kinh Ratthapàla - Ratthapàla sutta (Chuyện xuất gia và trở về thăm nhà; nêu động cơ xuất ly dựa trên vô thường, không chỗ nương, không thỏa mãn và phải bỏ lại tất cả)
  10. Kinh Chánh tri kiến - Sammàditthi sutta (Trình bày nền tảng của chánh kiến)
  11. Kinh A-sá-nang-chi - Atànàtiya sutta (Bản Hộ-Kinh giúp hộ-vệ các Tỳ-kheo)
  12. Tương ưng Thí dụ - Opamma-saṃyutta (Làm rõ giáo lý qua các thí dụ/ẩn dụ để nhấn mạnh ý nghĩa thực hành)
  13. Tương ưng Sakka - Sakka-saṃyutta (Các bài liên hệ Sakka (Đế Thích), nêu cách vị thiên chủ tiếp cận và học pháp)
  14. Kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp - Acchariya-abbhùtadhamma sutta (A-nan tán thán các "pháp hy hữu" của Như Lai, nhắc các chi tiết truyền thống về sự xuất hiện của Phật; đồng thời quy chiếu mục tiêu là học và hành theo pháp)
  15. Tương ưng Nhập - Okkantika-saṃyutta (Nhóm bài về "nhập/đi vào" (okkanti) theo nghĩa đi đúng hướng trên đạo lộ)
  16. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 31: Thọ Lượng (Tuổi thọ dài lâu của Phật)
  17. Tương ưng Lợi ích đắc cung kính - Lābhasakkāra-saṃyutta (Cảnh tỉnh lợi dưỡng–cung kính và nguy cơ lệch hướng tu tập khi chấp trước)
  18. Kinh Màgandiya - Màgandiya sutta (Phê phán dục lạc và "tái định nghĩa khoái lạc"; nêu lộ trình xuất ly, thiền định và tuệ tri để vượt các lạc thọ hữu vi)
  19. Tương ưng Dạ-xoa - Yakkha-saṃyutta (Đối thoại/kệ với dạ-xoa (yakkha), thường dẫn tới quy hướng và học pháp)
  20. Kinh Tùy phiền não - Upakkilesa sutta (Phân tích các chướng ngại tinh vi trong thiền (ánh sáng, hình tướng, hôn trầm, trạo cử, nghi…); hướng dẫn nhận diện và vượt qua để định–tuệ thuần thục)
  21. Tương ưng Phiền não - Kilesa-saṃyutta (Nhận diện và đối trị phiền não (kilesa), nhấn yếu tố đoạn trừ và chuyển hóa)
  22. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 16: Phạm Hạnh (Tu hành thanh tịnh, không nhiễm ô)
  23. Kinh Vekhanassa - Vekhanassa sutta (Bàn về "cái đẹp/cái thiện tối thượng"; chuyển tiêu chuẩn từ cảm thọ/đánh giá bên ngoài sang an lạc do thanh tịnh và ly tham)
  24. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 19: Thăng Dạ Ma Thiên Cung (Phật lên cõi trời Dạ Ma)
  25. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 39: Nhập Pháp Giới (Thiện Tài Đồng Tử tham học 53 vị thiện tri thức, thể nhập chân lý pháp giới)
  26. Kinh Xa-ni-sa - Janavasabha sutta (Nhờ tu theo Pháp Phật được tái-sanh cõi Trời)
  27. Kinh Angulimàla - Angulimàla sutta (Cảm hóa kẻ sát nhân Aṅgulimāla; nêu khả năng chuyển hóa và "quay đầu" nhờ từ bi và tu tập, dù vẫn chịu quả hiện đời)
  28. Đại kinh Dụ dấu chân voi - Mahàhatthipadopama sutta (Triển khai giáo pháp theo khung Tứ Thánh đế, liên hệ các uẩn và duyên khởi, ví như mọi dấu chân đều nằm trong dấu chân voi)
  29. Kinh Kùtadanta (Cứu-la-đàn-đầu) - Kùtadanta sutta (Cách tế-lễ được nhiều phước-đức)
  30. Kinh Phạm Thiên cầu thỉnh - Brahmanimantanika sutta (Kể việc đến cõi Phạm thiên để phá chấp "Phạm thiên" thường hằng và nhấn mạnh các cảnh giới thiền vẫn vô thường, không phải cứu cánh giải thoát)
  31. Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) trong Kinh tạng Pali (Suttanta Pitaka). Ðây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới)
  32. Trung Bộ Kinh - Majjhima-Nikāya (Tên gọi khác: Kinh Trung Bộ, 中部經)
  33. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 36: Phổ Hiền Hạnh (Hạnh nguyện rộng lớn của Bồ tát Phổ Hiền)
  34. Kinh Đại bổn - Mahàpadàna sutta (Huyền-sử về đức Phật Tỳ-bà-thi (Vipassi))
  35. Kinh Potaliya - Potaliya sutta (Tái định nghĩa "xuất ly": không chỉ rút khỏi việc đời mà là đoạn trừ các tập khí bất thiện và thiết lập chuẩn mực sống đưa đến an tịnh)
  36. Tiểu kinh Mãn nguyệt - Cùlapunnama sutta (Nêu khác biệt phàm phu và Thánh đệ tử trước ngũ uẩn: phàm phu sở hữu hóa; Thánh đệ tử tuệ tri như thật nên không thủ trước, hướng đến đoạn khổ)
  37. Tương ưng Jambukhādaka - Jambukhādaka-saṃyutta (Hỏi–đáp để làm rõ các điểm pháp học then chốt)
  38. Kinh Giáo giới Cấp Cô Độc - Anàthapindikovàda sutta (Pháp thoại cho cư sĩ cận tử: quán không chấp thủ đối với sáu căn–sáu trần, các uẩn và cảnh giới; giúp tâm xả ly, không hoảng loạn trước sinh tử)
  39. Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt - Sigàlovàda sutta (Lễ sáu phương và các bổn-phận ở nhà, xã-hội)
  40. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (III) - Jàtaka (Tiếp theo Chuyện Tiền Thân Đức Phật 2, từ chuyện 264 đến chuyện 395)
  41. Kinh Giới phân biệt - Dhàtuvibhanga sutta (Giáo giới du sĩ Pukkusāti bằng phép quán giới/đại (đất–nước–lửa–gió và yếu tố tâm) để tháo gỡ ngã chấp; xem thân tâm như các yếu tố vận hành theo duyên để ly tham và an tịnh)
  42. Kinh Ví dụ tấm vải - Vatthùpama sutta (Dùng ẩn dụ Tấm Vải để nói về thanh tịnh tâm)
  43. Kinh Hành sanh - Sankhàrupapatti sutta (Nêu mối liên hệ giữa nghiệp (tư tác), định và ý hướng tái sinh; có thể dẫn đến cảnh giới tương ứng nhưng cảnh báo không chấp thủ mục tiêu hữu vi, chí hướng tối hậu vẫn là giải thoát)
  44. Kinh Bát thành - Atthakanàgara sutta (Trình bày nhiều "cửa giải thoát": an trú các tầng thiền rồi quán vô thường để đoạn tận lậu hoặc (hoặc thành tựu chứng đắc cao))
  45. Tương ưng Căn - Indriya-saṃyutta (Trình bày các căn (tín–tấn–niệm–định–tuệ) và cách làm chúng thuần thục)
  46. Tiểu kinh Màlunkyà - Cula Màlunkyà sutta (Ví dụ "mũi tên tẩm độc": bác việc sa đà siêu hình; đặt trọng tâm vào Tứ Thánh đế và mục tiêu đoạn khổ)
  47. Chương ba pháp - Tikanipāta (Hệ thống theo bộ ba (ba pháp), thường gặp như ba nghiệp, ba căn bất thiện, ba học, hoặc các nhóm ba điều kiện/ba loại hành xử. Vấn đề quan trọng: nhiều giáo lý vận hành theo "tam phần", giúp thấy đạo lộ có cấu trúc thay vì rời rạc)
  48. Tương ưng Đạo - Magga-saṃyutta (Trọng tâm về con đường tu tập (đặc biệt Bát chánh đạo) và cách triển khai đạo lộ trong thực hành)
  49. Tương ưng Phạm thiên - Brahmā-saṃyutta (Các bài liên hệ Phạm thiên (Brahmā), nêu bối cảnh và đối thoại giáo lý)
  50. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 29: Thập Nhẫn (Mười sự nhẫn nhục, an định của tâm)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Quảng Cáo

bot san day