Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Hán » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Trí Tịnh

Kinh Văn

KINH HOA NGHIÊM PHẨM 10: BỒ TÁT VẤN MINH

(Bồ tát hỏi về pháp môn ánh sáng trí tuệ)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Trí Tịnh

Thuộc bộ: , Hoa Nghiêm Kinh, (12)

Ngôn ngữ: Hán

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Dịch nghĩa:
Bồ tát hỏi về pháp môn ánh sáng trí tuệ


Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh – Tập 10 – Số 279 (Hoa Nghiêm Bộ)
Buddhavatamsaka Mahavaipulya Sutra
大方廣佛華嚴經 – Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Ngài Bồ tát Long Thụ (thế kỷ II) thỉnh từ cung rồng Ta Kiệt La
Nước Trung Hoa – triều Đại Đường (618~907) – đời Võ Chu (690~705)
Đại sư Thật Xoa Nan Đà (652~710) Hán dịch từ Phạn văn năm 695
Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1917~2014) Việt dịch từ Hán văn
Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm 1983
daithua.com biên tập năm 2020

BỒ TÁT VẤN MINH


Lúc bấy giờ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Giác Thủ Bồ tát: Phật tử! Tâm tánh vốn là một, sao lại thấy có các thứ sai khác?

Những là: Đến đường lành nẻo dữ, căn thân có đủ có thiếu, thọ sanh đồng và khác, đẹp đẽ cùng xấu xí, nào vui nào khổ, nghiệp không biết tâm, mà tâm cũng chẳng biết nghiệp, thọ không rõ báo mà báo cũng chẳng rõ thọ, tâm chẳng biết thọ mà thọ cũng không biết tâm, nhơn không biết duyên mà duyên cũng chẳng biết nhơn, trí chẳng biết cảnh mà cảnh cũng chẳng biết trí.

Giác Thủ Bồ tát nói kệ để đáp:

Nay ngài hỏi nghĩa này
Vì Liễu ngộ quần mông
Cứ tánh kia, tôi đáp
Xin ngài lóng nghe cho.
Các pháp không tác dụng
Cũng không có thể tánh
Vì thế nên các pháp
Đều chẳng biết được nhau.
Ví như nước trong sông
Các dòng đua nhau chảy
Chúng đều chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Lại cũng như đống lửa
Đồng thời phát ngọn to
Chúng đều chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Lại như gió lớn thổi
Xao động các cảnh vật
Chúng đều chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Lại như các địa giới
Xây vần nương tựa nhau
Chúng đều chẳng biết nhau
Các pháp cũng như vậy.
Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân
Tâm ý sáu tình căn
Do dây thường lưu chuyển
Nhưng vẫn không năng chuyển.
Pháp tánh vốn vô sanh
Thị hiện mà có sanh
Trong đây không năng hiện
Cũng không vật sở hiện.
Nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân
Tâm ý sáu tình căn
Tất cả rỗng vô tánh
Vọng phân biệt mà có.
Cứ đúng lý quan sát
Tất cả đều vô tánh
Pháp nhãn bất tư nghì
Đây là thấy chơn thật.
Hoặc vọng hay chẳng vọng
Hoặc thiệt hoặc chẳng thiệt
Thế gian cùng xuất thế
Chỉ là giả ngôn thuyết.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Tài Thủ Bồ tát: Phật tử! Đức Như Lai tùy thời gian như thế nào, cũng như tùy mạng sống, tùy thân thể, tùy hành vi, tùy hiểu biết, tùy ngôn luận, tùy sở thích, tùy phương tiện, tùy tư duy, tùy quan sát của chúng sanh như thế nào, mà hiện thân Phật để giáo hóa điều phục các chúng sanh ấy?

Tài Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Đây là cảnh của bực
Đa Văn thích tịch diệt,
Nay tôi vì ngài đáp
Xin ngài chú ý nghe.
Phân biệt quán nội thân
Trong đây gì là ta?
Nếu hiểu được như vậy
Thời biết ta không.
Thân này là giả tạo
Chỗ trụ không nơi chỗ
Người thiệt biết thân này
Trong đây không chấp trước.
Nơi thân khéo quan sát
Tất cả đều thấy rõ
Biết pháp đều hư vọng
Chẳng khởi tâm phân biệt.
Mạng sống nhơn gì có
Rồi nhơn gì tan mất
Khác nào vòng lửa xây
Đầu đuôi chẳng biết được.
Người trí hay quan sát
Có tướng đều vô thường
Các pháp, không, vô ngã
Lìa hẳn tất cả tướng.
Các báo, tùy nghiệp sanh
Giả dối như giấc mơ
Luôn luôn thường diệt hoại
Như trước, sau cũng vậy.
Những pháp thấy ở đời
Chỉ do tâm làm chủ,
Tùy hiểu chấp lấy tướng
Điên đảo chẳng đúng thật.
Những ngôn luận trong đời
Đều do phân biệt cả
Chưa từng có một pháp
Được vào nơi pháp tánh.
Sức năng duyên, sở duyên
Sanh ra những pháp tướng
Chóng diệt, chẳng tạm dừng
Niệm niệm đều như vậy.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Bửu Thủ Bồ tát: Phật tử! Tất cả chúng sanh đồng có tứ đại, không ngã, không ngã sở, tại sao lại có những sự khác biệt, như khổ vui, tốt xấu, ưa trong chuộng ngoài, thọ ít hưởng nhiều, hoặc hiện báo, hoặc hậu báo. Nhưng trong Pháp giới vẫn không tốt xấu?

Bửu Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Cứ theo nghiệp đã tạo
Sanh quả báu như vậy
Đều không có tác giả
Đây là lời chư Phật.
Như mặt gương sáng sạch
Tùy theo cảnh đối tượng
Hiện bóng sai khác nhau
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Cũng như ruộng gieo giống
Chúng đều chẳng biết nhau
Tự nhiên mọc lên cây
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Như nhà ảo thuật giỏi
Ở tại ngã tư đường
Hiện ra những sắc tướng
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Như người gỗ máy móc
Hay vang ra các tiếng
Nó không ngã ngã sở
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Cũng như giống chim bay
Từ trứng nở sanh ra
Tiếng kêu không đồng nhau
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Ví như trong thai tạng
Căn thân đều thành tựu
Thể tướng không từ đâu
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Lại như ở địa ngục
Bao nhiêu là sự khổ
Kia đều không từ đâu
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Như vua Chuyển luân vương
Có đủ bảy thứ bảo
Chỗ đến không từ đâu
Nghiệp tánh cũng như vậy.
Lại như các thế giới
Lúc đại hỏa cháy tan
Lửa này không từ đâu
Nghiệp tánh cũng như vậy.

Lúc đó Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Đức Thủ Bồ tát: Phật tử! Chỗ Giác ngộ của Đức Như Lai chỉ là một pháp duy nhứt, sao lại bảo là vô lượng pháp, hiện vô lượng cõi, hóa vô lượng chúng, diễn vô lượng âm, thị vô lượng thân, biết vô lượng tâm, hiện vô lượng thần thông, có thể chấn động khắp vô lượng thế giới, thị hiện vô lượng sự thù thắng trang nghiêm, hiển thị vô biên nhiều loại cảnh giới. Nhưng trong pháp tánh các tướng sai biệt này đều bất khả đắc.

Đức Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Nghĩa của Phật tử hỏi
Rất sâu khó rõ được
Người trí biết nghĩa này
Thường chứa công Đức Phật.
Như đất chỉ một tánh
Mọi loài ở riêng chỗ
Đất không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật như vậy.
Cũng như một đại hải
Ngàn vạn lượng sóng trào
Nước biển vẫn duy nhứt
Pháp chư Phật như vậy.
Cũng như gió một tánh
Thổi động tất cả vật
Gió không nghĩ đồng khác
Pháp chư Phật như vậy.
Cũng như mây sấm lớn
Mưa khắp cả mọi nơi
Nước mưa vẫn không khác
Pháp chư Phật như vậy.
Cũng như mặt đất kia
Mọc lên nhiều mầm mộng
Mặt đất chỉ là một
Pháp chư Phật như vậy.
Mặt nhựt không mây mờ
Chiếu sáng khắp mười phương
Quang minh không sai khác
Pháp chư Phật như vậy.
Như mặt nguyệt trên cao
Mọi nơi đều nhìn thấy
Mặt nguyệt vẫn một chỗ
Pháp chư Phật như vậy.
Ví như Đại Phạm Vương
Ứng hiện khắp đại thiên
Thân ngài vẫn không khác
Pháp chư Phật như vậy.

Lúc đó Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Mục Thủ Bồ tát: Phật tử! Như Lai phước điền đồng một không sai khác, sao lại thấy chúng sanh bố thí được của quả báo chẳng đồng?

Những là: Nhiều loại sắc, nhiều loại thân, nhiều loại căn, nhiều loại nhà, nhiều loại chủ, nhiều loại quyến thuộc, nhiều loại quan chức, nhiều loại công đức, nhiều loại trí huệ. Nhưng Đức Phật đối với họ, tâm Phật thường bình đẳng, không có quan niệm riêng khác.

Mục Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Như tất cả vẫn là một
Theo giống mọc mầm khác
Đất không ý thân sơ
Phật phước điền cũng vậy.
Lại như nước một vị
Nhơn đồ đựng có khác
Phật phước điền vẫn một
Do tâm người thành khác.
Như nhà ảo thuật khéo
Làm mọi người hoan hỉ
Phật phước điền cũng vậy
Khiến chúng sanh kính vui.
Như vua có tài trí
Hay khiến nhơn dân mừng
Phật phước điền cũng vậy
Khiến chúng đều an vui.
Như mặt gương sáng sạch
Theo hình mà hiện bóng
Phật phước điền cũng vậy
Tùy tâm được báo khác.
Như thuốc A gìa đà
Trị được tất cả độc
Phật phước điền cũng vậy
Dứt các hoạ phiền não.
Như lúc mặt trời mọc
Chiếu sáng khắp thế gian
Phật phước điền cũng vậy
Phá trừ những tối tăm.
Như mặt nguyệt tròn sáng
Chiếu khắp cõi đại địa
Phật phước điền cũng vậy
Bình đẳng với tất cả.
Ví như gió tỳ lam
Chấn động khắp đại địa
Phật phước điền cũng vậy
Động chúng sanh ba cõi.
Như đại hỏa nổi lên
Đốt cháy tất cả vật
Phật phước điền cũng vậy
Đốt tất cả hữu vi.

Lúc đó Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Cần Thủ Bồ tát: Phật tử! Phật giáo là một, chúng sanh được thấy biết, cớ sao không liền đều dứt trừ tất cả phiền não hệ phược mà được xuất ly? Nhưng nơi chúng sanh, sắc, thọ, tưởng, hành và thức, năm uẩn, dục, sắc, vô sắc, ba cõi, vô minh, tham ái đều không sai khác. Như thế thời Phật giáo, đối với chúng sanh, hoặc có lợi ích, hoặc không có lợi ích?

Cần Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Phật tử khéo lóng nghe
Nay tôi cứ thiệt đáp
Hoặc có mau giải thoát
Hoặc có khó xuất ly.
Nếu muốn cầu dứt trừ
Vô lượng những lỗi ác
Nên ở trong Phật pháp
Dũng mãnh thường tinh tấn.
Ví như chút ít lửa
Đốt ướt thời chóng tắt
Ở nơi trong Phật pháp
Người giải đãi cũng vậy.
Như cọ cây lấy lửa
Chưa cháy mà nghỉ luôn
Thế lửa liền tắt nguội
Người giải đãi cũng vậy.
Như người cầm nhựt châu
Chẳng dùng vật tiếp bóng
Trọn không thể được lửa
Người giải đãi cũng vậy
Như ánh nắng quá chói
Trẻ nít nhắm đôi mắt
Tự nói sao không thấy
Người giải đãi cũng vậy
Như người không tay chân
Muốn dùng cỏ làm tên
Bắn phá cả đại địa
Người giải đãi cũng vậy
Như lấy một đầu lông
Muốn chấm khô đại hải
Người giải đãi cũng vậy
Không thể dứt hoặc nghiệp.
Lại như kiếp hỏa nổi
Muốn tắt với ít nước
Ở nơi trong Phật pháp
Người giải đãi cũng vậy.
Như người ngó hư không
Ngồi yên không giao động
Nói mình bay đi khắp
Người giải đãi cũng vậy.

Lúc đó Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi pháp Thủ Bồ tát: Phật tử! Như lời Đức Phật dạy: Nếu có chúng sanh thọ trì Chánh pháp thời đều có thể dứt trừ tất cả phiền não?

Nhưng cớ sao có người thọ trì Chánh pháp lại tùy thế lực của tham, sân, si, mạn, tùy thế lực của phú, phẩn, hận, tật, xan, cuống, siểm … xoay chuyển không rời nơi tâm. Người hay thọ trì pháp, cớ sao lại ở trong tâm hành khởi các phiền não?

Pháp Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Phật tử khéo lóng nghe
Thật nghĩa ngài đã hỏi
Vì chẳng phải đa văn
Mà vào được Phật pháp.
Như người trôi giữa dòng
Sợ chìm mà chết khát
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như trần thiết vật thực
Chẳng ăn phải đói
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như người giỏi dược phương
Chẳng cứu được bịnh mình
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như người đếm châu báu
Tự mình vẫn nghèo nàn
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như người ở vương cung
Mà tự chịu đói rét
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như điếc tấu âm nhạc
Người nghe mình chẳng nghe
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như mù họa hình tượng
Người thấy mình chẳng thấy
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Ví như nhà hàng hải
Mà tự chết trong biển
Nơi pháp chẳng tu hành
Đa văn cũng như vậy.
Như ở ngã tư đường
Giảng nói những điều tốt
Mà tự không thật đức
Chẳng tu cũng như vậy.

Lúc đó, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Trí Thủ Bồ tát: Phật tử! Trong phật pháp, trí huệ là trên tất cả, cớ sao với các chúng sanh, Đức Phật hoặc ca ngợi sự bố thí, sự trì giới, hoặc ca ngợi sự nhẫn nhục, sự tinh tấn, thiền định, trí huệ, từ bi, hỉ xả … , mà chẳng chỉ dùng một pháp để được giải thoát, thành vô lượng chánh đẳng chánh giác?

Trí Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Phật tử rất hi hữu
Biết rõ tâm chúng sanh
Xin lóng nghe tôi đáp
Những nghĩa ngài đã hỏi.
Chư Phật thuở quá khứ
Hiện tại và vị lai
Không có nói một pháp
Mà chứng được đạo quả.
Phật biết tâm chúng sanh
Tánh phận đều chẳng đồng
Tùy chỗ họ đáng thọ
Theo đó mà thuyết pháp.
Vì kẻ tham, khuyên thí
Vì người lỗi, khen giới
Nhiều sân, thời khuyên nhẫn
Giải đãi, thời khuyên siêng.
Loạn tâm phải tu định
Ngu si trau trí huệ
Bất nhơn phải từ mẫn
Giận hại khuyên rèn bi.
Lo rầu thời ngợi hỉ
Chấp trước lời khen xả
Tuần tự tu như vậy
Lần đủ các phật pháp.
Như trước xây nền móng
Rồi sau tạo nhà cửa
Thí và giới cũng vậy
Là gốc hạnh Bồ tát.
Ví như dựng thành quách
Để bảo hộ dân chúng
Nhẫn và tấn cũng vậy
Phòng hộ chư Bồ tát.
Ví như Đại Lực Vương
Cả nước đều ngưỡng vọng
Định huệ cũng như vậy
Chỗ tựa của Bồ tát.
Cũng như vua chuyển luân
Ban vui cho nhân loại
Từ bi và hỉ xả
Làm Bồ tát an vui.

Lúc đó Văn Thù Sư Lợi Bồ tát hỏi Hiền Thủ Bồ tát rằng: Phật tử! Chư Phật chỉ do một đạo mà được giải thoát. Cớ sao hiện nay thấy tất cả phật độ lại có nhiều sự không đồng, những là: Thế giới, chúng sanh giới, thuyết pháp, điều phục, thọ lượng, quang minh, thần thông, chúng hội, giáo nghĩa, pháp trụ v.v… đều sai khác nhau. Không có vị nào chẳng đủ tất cả phật pháp mà được thành vô thượng bồ đề?

Hiền Thủ Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Thưa ngài! pháp thường vậy
Pháp Vương pháp duy nhất
Tất cả chư Như Lai
Một đạo mà giải thoát.
Thân của tất cả Phật
Chỉ là một Pháp thân
Nhứt tâm, nhứt trí huệ
Lực vô úy cũng vậy.
Như trước đến bồ đề
Bao nhiêu tâm hồi hướng
Được cõi nước như vậy
Chúng hội và thuyết pháp.
Tất cả các cõi Phật
Trang nghiêm đều viên mãn
Tùy chúng sanh hạnh khác
Thấy chẳng đồng như vậy
Cõi Phật cùng thân Phật
Chúng hội và ngôn thuyết
Các phật pháp như vậy
Chúng sanh chẳng thấy được.
Tâm ý đã thanh tịnh
Hạnh nguyện đều đầy đủ
Người sáng suốt như vậy
Mới được thấy nơi đây.
Tùy chúng sanh tâm thích
Và cùng sức nghiệp quả
Thấy sai khác như vậy
Do oai thần của Phật.
Cõi Phật vô sai biệt
Không ghét cũng không thương
Chỉ tùy tâm chúng sanh
Thấy có khác như vậy.
Do đây nơi thế giới
Chỗ thấy đều sai khác
Chẳng phải chư Như Lai
Bực Đại Tiên có lỗi.
Tất cả các thế giới
Người đáng được giáo hóa
Thường được thấy Thế Tôn
Pháp chư Phật như vậy.

Lúc đó chư Bồ tát nói với Văn Thù Sư Lợi Bồ tát: Phật tử! Chúng tôi đã tự nói chỗ hiểu biết của mình rồi. Xin ngài dùng diệu biện tài diễn sướng những cảnh giới của Như Lai:

Những gì là cảnh giới của Phật? Những gì là nhơn của cảnh giới Phật? Những gì là sự tế độ của cảnh giới Phật? Những gì là sự nhập vào của cảnh giới Phật? Những gì là trí của cảnh giới Phật? Những gì là pháp của cảnh giới Phật? Những gì là ngôn thuyết của cảnh giới Phật? những gì là sự hiểu biết của cảnh giới Phật? Những gì là sự chứng của cảnh giới Phật? Những gì là sự hiện ở của cảnh giới Phật? Những gì là sự rộng lớn của cảnh giới Phật?

Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nói kệ đáp rằng:

Như Lai cảnh giới sâu
Lượng đó khắp hư không
Tất cả chúng sanh vào
Mà thật không chỗ nhập.
Như Lai cảnh giới sâu
Bao nhiêu nhơn thắng diệu
Ức kiếp thường tuyên nói
Cũng lại chẳng thể hết.
Tùy tâm trí huệ mình
Khuyến tấn đều khiến lợi
Độ chúng sanh như vậy
Là cảnh giới chư Phật.
Những cõi nước thế gian
Tất cả đều theo vào
Trí thân không có sắc
Chẳng phải kia thấy được.
Chư Phật trí tự tại
Tam thế không chướng ngại
Cảnh giới huệ như vậy
Bình đẳng như hư không.
Pháp giới chúng sanh giới
Rốt ráo không sai khác
Tất cả đều rõ biết
Đây là cảnh giới Phật.
Trong tất cả thế giới
Bao nhiêu những âm thinh
Phật trí đều tùy rõ
Cũng không có phân biệt.
Chẳng phải thức biết được
Chẳng phải tâm cảnh giới
Tánh đó vốn thanh tịnh
Khai thị các quần sanh.
Chẳng nghiệp chẳng phiền não
Không vật không trụ xứ
Không chiếu không sở hành
Bình đẳng đi thế gian.
Tất cả tâm chúng sanh
Khắp ở trong ba thời
Như Lai nơi một niệm
Tất cả đều rõ thấu.

Lúc bấy giờ trong cõi Ta Bà này, tất cả chúng sanh, bao nhiêu pháp sai biệt, nghiệp sai biệt, thế gian sai biệt, thân sai biệt, căn sai biệt, thọ sanh sai biệt, trì giới quả sai biệt, phạm giới quả sai biệt, quốc độ quả sai biệt, do thần lực của Phật thảy đều hiện rõ.

Phương đông, trăm ngàn ức na do tha vô số, vô lượng, vô biên, vô đẳng, bất khả số, bất khả xưng, bất khả tư, bất khả lượng, bất khả thuyết, tận Pháp giới hư không giới, trong tất cả thế giới, bao nhiêu chúng sanh pháp sai biệt, nhẫn đến quốc độ quả sai biệt đều do thần lực của Phật mà hiển hiện rõ ràng.

Những phương Nam, Tây, Bắc, Đông Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Tây Bắc, Thượng, Hạ, cũng đều như vậy.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 30: A Tăng Kỳ (Ý nghĩa của sự vô số, vô lượng)
  2. Tương ưng Phiền não - Kilesa-saṃyutta (Nhận diện và đối trị phiền não (kilesa), nhấn yếu tố đoạn trừ và chuyển hóa)
  3. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala - Ambalatthikà Ràhulovàda sutta (Dạy về chân thật và tự phản tỉnh trước–trong–sau khi hành động (thân–khẩu–ý) như nền tảng thanh tịnh)
  4. Kinh Sa-môn quả - Sàmannaphala sutta (Các lợi-ích thiết-thực của Quả-vi Sa-môn)
  5. Chương năm pháp - Pañcakanipāta (Theo năm pháp, xoay quanh các nhóm quan trọng cho tu tập và đời sống. Vấn đề quan trọng: tính "thực dụng" của pháp số—nhiều nhóm năm như checklist tự kiểm, phòng hộ, điều chỉnh hành vi)
  6. Đại kinh Phương quảng - Mahàvedalla sutta (Hỏi–đáp về nhiều khái niệm cốt lõi (danh–sắc, thức, thọ, tưởng, hành, tuệ giải thoát…) và làm rõ mối liên hệ giữa các pháp)
  7. Tiểu kinh Rừng sừng bò - Cùlagosinga sutta (Nêu hình mẫu đời sống rừng hòa hợp, ít lời và tinh tấn, lấy thiền định và phạm hạnh làm trọng)
  8. Kinh Vekhanassa - Vekhanassa sutta (Bàn về "cái đẹp/cái thiện tối thượng"; chuyển tiêu chuẩn từ cảm thọ/đánh giá bên ngoài sang an lạc do thanh tịnh và ly tham)
  9. Tương ưng Sanh - Uppāda-saṃyutta (Về sự sinh khởi (uppāda) của các pháp và hệ quả đối với tuệ quán)
  10. Kinh Nhiều cảm thọ - Bahuvedanìya sutta (Triển khai các hệ phân loại cảm thọ; làm rõ dục lạc và hỷ lạc thiền định để quán sát, không chấp thủ, hướng đến đoạn khổ)
  11. Kinh Căn tu tập - Indriyabhàvanà sutta (Bác quan niệm "tu căn" là triệt tiêu cảm giác; chỉ "vô thượng căn tu tập" là tiếp xúc sáu trần mà không bị tham–sân chi phối, chuyển hóa phản ứng bằng chánh niệm và tuệ tri)
  12. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 16: Phạm Hạnh (Tu hành thanh tịnh, không nhiễm ô)
  13. Tương ưng Kim xí điểu - Supaṇṇa-saṃyutta (Nhóm bài liên hệ supaṇṇa, dùng bối cảnh/ẩn dụ để nêu pháp)
  14. Tương ưng Nhập - Okkantika-saṃyutta (Nhóm bài về "nhập/đi vào" (okkanti) theo nghĩa đi đúng hướng trên đạo lộ)
  15. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 29: Thập Nhẫn (Mười sự nhẫn nhục, an định của tâm)
  16. Tương ưng Giới - Dhātu-saṃyutta (Khung "giới/yếu tố" (dhātu) để phân tích kinh nghiệm và pháp học)
  17. Kinh Ái sanh - Piyajàtika sutta (Dạy rằng sầu bi phát sinh từ thương mến/ái trước; minh họa bằng các câu chuyện liên hệ vua Pasenadi và hoàng hậu Mallikā)
  18. Kinh Đại duyên - Mahànidàna sutta (Pháp Duyên-Khởi)
  19. Kinh Gò mối - Vammika sutta (Dùng ẩn dụ "gò mối" và các hình ảnh đi kèm như một bài "mật ngữ", rồi giải nghĩa theo tiến trình tu tập và các pháp cần đoạn–cần chứng)
  20. Kinh Ưu-đàm-bà-la sư tử hống - Udumbarikà-Sìhanàda sutta (Tà-giáo chẳng biết nghe lời giảng-dạy như sư-tử rống của đức Phật)
  21. Kinh Lomasakangiya Nhất dạ hiền giả - Lomasakangiyabhaddekaratta sutta (Nhắc bài kệ "nhất dạ hiền giả" liên hệ trường hợp Lomasakaṅgiya; nhấn mạnh lực giải thoát nằm ở tuệ tri hiện pháp, không trôi theo ký ức và dự phóng)
  22. Tương ưng Kiến - Diṭṭhi-saṃyutta (Bàn về tà kiến/chấp kiến và phương cách tháo gỡ nhận thức sai lầm)
  23. Kinh Giáo giới Channa - Channovàda sutta (Giáo giới tỳ-kheo Channa trọng bệnh bằng quán vô thường–khổ–vô ngã và không chấp thủ ngũ uẩn/kiến chấp; nhấn mạnh "không chấp thủ" như điểm tựa cuối cùng khi thân tâm suy sụp)
  24. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 24: Đâu Suất Kệ Tán (Bồ tát ca ngợi Phật tại cõi Đâu Suất)
  25. Đại kinh Màlunkyà - Mahà Màlunkyà sutta (Trình bày các pháp cần đoạn và lộ trình đoạn trừ kiết sử; nhấn mạnh tu tập có hệ thống thay cho tranh luận/suy đoán)
  26. Tiểu kinh Giáo giới La-hầu-la - Cùlaràhulovàda sutta (Đức Phật dạy La-hầu-la quán vô ngã "không phải của ta/không phải là ta/không phải tự ngã của ta" để chấm dứt sở hữu hóa kinh nghiệm, hướng đến ly tham và giải thoát)
  27. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 2: Như Lai Hiện Tướng (Phật hiện hào quang, chỉ rõ pháp thân chân thật)
  28. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 28: Thập Thông (Mười trí tuệ thông suốt)
  29. Kinh Ratthapàla - Ratthapàla sutta (Chuyện xuất gia và trở về thăm nhà; nêu động cơ xuất ly dựa trên vô thường, không chỗ nương, không thỏa mãn và phải bỏ lại tất cả)
  30. Đại kinh Pháp hành - Mahàdhammasamàdàna sutta (Triển khai rộng chủ đề thọ trì pháp, giải thích kỹ hơn bốn cách thọ trì và đưa ví dụ, nhấn mạnh lựa chọn con đường đem lại an lạc bền vững)
  31. Kinh Bạc-câu-la - Bakkula sutta (Bakkula thuật đời sống phạm hạnh thanh tịnh, tri túc và tinh cần bền bỉ; nêu gương "phạm hạnh giản dị" và sức mạnh của nội lực không phô trương)
  32. Kinh Ambattha (A-ma-trú) - Ambattha sutta (Chớ hãnh-diện về dòng-họ và giai-cấp)
  33. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 9: Quang Minh Giác (Ánh sáng trí tuệ phá tan u tối, chỉ lối tu)
  34. Kinh Đại Bát-Niết-Bàn - Mahàparinibbàna sutta (Các ngày cuối-cùng của Phật Thích-ca)
  35. Kinh Đại hội - Mahàsamaya sutta (Tên chư Thiên đến hội để chiêm-ngưỡng Phật)
  36. Chương chín pháp - Navakanipāta (Theo chín pháp, thường là các nhóm điều kiện/nhân duyên và cách "xếp lớp" yếu tố theo mức độ. Vấn đề quan trọng: tu học là tiến trình tích lũy điều kiện, không phải "một bước nhảy" bằng niềm tin)
  37. Kinh Niệm xứ - Satipatthàna sutta (Cách an trú niệm ở 4 nơi (thân, thọ, tâm, pháp))
  38. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 13: Thăng Tu Di Sơn Đảnh (Phật lên núi Tu Di, biểu thị sự siêu việt)
  39. Kinh Bất đoạn - Anupada sutta (Tán dương Xá-lợi-phất tuệ tri "không gián đoạn" trong từng tầng thiền/chứng đắc; minh họa mô hình kết hợp định sâu và tuệ quán vi tế)
  40. Kinh Subha (Tu-bà) - Subha sutta (Ba Thánh-uẩn: Giới, Định, Huệ)
  41. Đại kinh Rừng sừng bò - Mahàgosinga sutta (Các đại đệ tử bàn luận "hạng tỳ-kheo nào làm đẹp khu rừng" với nhiều phẩm chất khác nhau; Đức Phật xác chứng các phẩm chất ấy quy về đoạn trừ bất thiện và tăng trưởng thiện pháp)
  42. Kinh Trạm xe - Rathavinìta sutta (Dụ "trạm xe/xe chuyển trạm" để minh họa các tầng thanh tịnh như những chặng chuyển tiếp hướng về cứu cánh Niết-bàn)
  43. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (I) - Jātaka (Tập hợp truyện tiền thân (jātaka) gắn với tiền kiếp của Đức Phật/Bồ-tát; thường là truyện kể kèm kệ, với mô-típ nhân vật, tình huống và lời kết luận đạo đức trong cấu trúc truyện. Nội dung chủ yếu là các tình huống lựa chọn và hành vi, qua đó trình bày các phẩm chất/đức hạnh được nêu trong truyền thống truyện tiền thân)
  44. Tương ưng Vacchagotta - Vacchagotta-saṃyutta (Đối thoại với Vacchagotta về tri kiến và cách trả lời đúng pháp)
  45. Kinh Jìvak - Jìvaka sutta (Nêu nguyên tắc "tam tịnh nhục" và trọng tâm bất hại: vấn đề thọ dụng được xét theo ý nghiệp và duyên khởi sát hại)
  46. Kinh Bất động lợi ích - Anenjasappàya sutta (Chỉ điều kiện đưa đến "bất động" (định sâu) và cảnh báo chấp thủ chứng đắc vi tế; nhấn mạnh tuệ quán vô thường–vô ngã để vượt dừng ở an ổn tạm thời)
  47. Kinh Bhaddàli - Bhaddàli sutta (Trường hợp không thuận học giới và cách phục hồi; nhấn mạnh tôn trọng giới luật để bảo vệ hòa hợp và tiến bộ đạo nghiệp)
  48. Trưởng lão ni kệ - Therīgāthā (Tuyển tập kệ gán cho các trưởng lão ni; nhiều bài là lời tự thuật về hoàn cảnh đời sống, chuyển biến tâm lý và kinh nghiệm tôn giáo của nhân vật. Nội dung cung cấp tư liệu về tiếng nói nữ giới trong văn học Phật giáo sơ kỳ và các mô-típ thường gặp trong kệ tụng (khổ cảnh–chuyển hóa–tuyên ngôn))
  49. Tiểu kinh Saccaka - Cùlasaccaka sutta (Đối thoại với biện sĩ Saccaka về "ngã", chỉ ra ngũ uẩn không phải ngã và không thể điều khiển theo ý, từ đó phá chấp "tự ngã chủ tể")
  50. Kinh Assalàyana - Assalàyana sutta (Tranh luận chống học thuyết đẳng cấp; bác bỏ "thanh tịnh bẩm sinh", khẳng định giá trị theo nghiệp hạnh/giới hạnh)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm:

vụ [ ]

6544, tổng 9 nét, bộ phác 攴 (+5 nét)

Quảng Cáo

bánh tráng chả giò