Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Pāli » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Minh Châu

Kinh Văn

KINH KHẤT THỰC THANH TỊNH

Pindapàtapàrisuddhi sutta

(Đặt "thanh tịnh khất thực" như pháp môn tự kiểm tâm trước–trong–sau khi khất thực (dục tham/sân/hại…); biến sinh hoạt thường nhật thành cơ chế tịnh hóa tâm cụ thể)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Minh Châu

Thuộc bộ: , Trung Bộ Kinh, Nikaya, (151)

Ngôn ngữ: Pāli

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Nội Dung:
Kinh Khất thực thanh tịnh


Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc (Kalandakanivapa).

Rồi Tôn giả Sariputta vào buổi chiều, từ Thiền tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Sariputta đang ngồi một bên:

-- Này Sariputta, các căn của Ông rất sáng suốt, sắc da của Ông thanh tịnh trong sáng. Này Sariputta, Ông nay đang phần lớn an trú với loại an trú nào?

-- Bạch Thế Tôn, con nay đang phần lớn an trú với Không trú.

-- Lành thay, lành thay! Này Sariputta, Ông nay đang phần lớn an trú với sự an trú của bậc Ðại nhân. Này Sariputta, sự an trú của bậc Ðại nhân tức là không tánh. Do vậy, này Sariputta, nếu Tỷ-kheo ước mong rằng: "Mong rằng tôi nay phần lớn an trú với sự an trú không tánh", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải suy tư như sau: "Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực, và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, tại chỗ ấy, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên ở nơi ta dục, tham, sân si, hay hận tâm không?"

Này Sariputta, nếu Tỷ-kheo sau khi tư duy biết rằng: "Trên con đường ta đã đi vào làng để khất thực, tại trú xứ ta đã đi khất thực và trên con đường từ làng ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sariputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Trên con đường ta đã đi... ta đi khất thực trở về, đối với các sắc do mắt nhận thức, không có khởi lên nơi dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Trên con đường ta đã đi... , ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức,... đối với các hương do mũi nhận thức,... đối với cácvị do lưỡi nhận thức,... đối với các xúc do thân nhận thức,... đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên dục, tham, sân, si hay hận tâm không?"

Này Sariputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Trên con đường ta đã đi... , ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức,... đối với các hương do mũi nhận thức,... đối với các vị do lưỡi nhận thức,... đối với các xúc do thân nhận thức,... đối với các pháp do ý nhận thức, có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si, hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận các ác bất thiện pháp ấy. Nhưng này Sariputta, nếu Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Trên con đường ta đã đi..., ta đi khất thực trở về, đối với các tiếng do tai nhận thức,... đối với các hương do mũi nhận thức,... đối với các vị do lưỡi nhận thức,... đối với các xúc do thân nhận thức,... đối với các pháp do ý nhận thức, không có khởi lên nơi ta dục, tham, sân, si hay hận tâm", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng chưa? Này Sariputta, nếu Tỷ-kheo, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa đoạn tận năm dục trưởng dưỡng", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm dục trưởng dưỡng. Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã đoạn tận năm dục trưởng dưỡng", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã đoạn tận năm triền cái chưa?" Nếu, này Sariputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: "Ta chưa đoạn tận năm triền cái", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải tinh tấn đoạn tận năm triền cái. Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã đoạn tận năm triền cái ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta có liễu tri năm thủ uẩn chưa?" Này Sariputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: "Ta chưa có liễu tri năm thủ uẩn", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tán liễu tri năm thủ uẩn. Nhưng nếu, này Sariputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo ấy được biết như sau: "Ta đã liễu tri năm thủ uẩn", thời này Sariputta, vị Tỷ-kheo ấy phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã tu tập bốn niệm xứ chưa?" Này Sariputta, nếu trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết: "Ta chưa tu tập bốn niệm xứ", thời này Sariputta, vị Tỷ-kheo cần phải tinh tấn tu tập bốn niệm xứ. Nhưng nếu, này Sariputta, trong khi suy tư, Tỷ-kheo được biết như sau: "Ta đã tu tập bốn niệm xứ ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta đã tu tập bốn chánh cần chưa? "... "Ta đã tu tập bốn như ý túc chưa?"... "Ta đã tu tập năm căn chưa?"... "Ta đã tu tập năm lực chưa?"... "Ta đã tu tập bảy giác chi chưa?"... Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành chưa?" Nếu Tỷ-kheo, này Sariputta, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa tu tập Thánh đạo Tám ngành", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Thánh đạo Tám ngành. Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã tu tập Thánh đạo Tám ngành", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú trong hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư: "Ta đã tu tập Chỉ và Quán chưa? " Nếu Tỷ-kheo, này Sariputta, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa tu tập Chỉ và Quán ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập Chỉ và Quán. Nhưng nếu, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã tu tập Chỉ và Quán ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Lại nữa, này Sariputta, Tỷ-kheo cần phải suy tư như sau: "Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát chưa? " Nếu Tỷ-kheo, này Sariputta, trong khi suy tư được biết như sau: "Ta chưa chứng ngộ minh và giải thoát", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải tinh tấn tu tập minh và giải thoát. Nhưng nếu, này Sariputta, Tỷ-kheo trong khi suy tư được biết như sau: "Ta đã chứng ngộ minh và giải thoát ", thời này Sariputta, Tỷ-kheo ấy cần phải an trú với hỷ và hân hoan ngày đêm tu học trong các thiện pháp.

Này Sariputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời quá khứ đã làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Này Sariputta, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong thời gian tương lai sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Và này Sariputta, những Sa-môn, Bà-la-môn nào trong thời hiện tại, làm cho khất thực được thanh tịnh, tất cả những vị ấy đã làm cho khất thực được thanh tịnh, bằng cách suy tư, suy tư như vậy. Vậy này Sariputta, các Ông cần phải học tập như sau: "Sau khi suy tư, suy tư, chúng ta sẽ làm cho khất thực được thanh tịnh". Này Sariputta, các Ông phải tu tập như vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Sariputta hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Kinh Thiện tinh - Sunakkhatta sutta (Thuật Sunakkhatta rời Tăng và phê phán Như Lai; Đức Phật cảnh báo lệch mục tiêu (chạy theo thần dị/điềm báo) và xác lập tiêu chuẩn đoạn tận phiền não)
  2. Tương ưng Vacchagotta - Vacchagotta-saṃyutta (Đối thoại với Vacchagotta về tri kiến và cách trả lời đúng pháp)
  3. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 30: A Tăng Kỳ (Ý nghĩa của sự vô số, vô lượng)
  4. Kinh Ratthapàla - Ratthapàla sutta (Chuyện xuất gia và trở về thăm nhà; nêu động cơ xuất ly dựa trên vô thường, không chỗ nương, không thỏa mãn và phải bỏ lại tất cả)
  5. Đại kinh Rừng sừng bò - Mahàgosinga sutta (Các đại đệ tử bàn luận "hạng tỳ-kheo nào làm đẹp khu rừng" với nhiều phẩm chất khác nhau; Đức Phật xác chứng các phẩm chất ấy quy về đoạn trừ bất thiện và tăng trưởng thiện pháp)
  6. Tương ưng Thần mây - Valāhaka-saṃyutta (Nhóm bài liên hệ "thần mây" (valāhaka), thường làm bối cảnh kể/giảng pháp)
  7. Tương ưng Đạo - Magga-saṃyutta (Trọng tâm về con đường tu tập (đặc biệt Bát chánh đạo) và cách triển khai đạo lộ trong thực hành)
  8. Kinh Tevijja (Tam minh) - Tevijja sutta (Con đường thẳng-tắp đi đến cõi Trời Phạm)
  9. Kinh Hàng ma - Màratajjanìya sutta (Thuật chuyện Mục-kiền-liên quở trách Ma quấy nhiễu và nêu bài học về tinh tấn, chánh niệm trước chướng ngại nội–ngoại duyên)
  10. Kinh Devadaha - Devadaha sutta (Đối thoại với Nigaṇṭha về khổ hạnh cực đoan và thuyết )
  11. Kinh Tập - Suttanipāta (Tuyển tập kinh cổ thiên về thơ/kệ và đối thoại; gồm nhiều phẩm (vagga) với văn phong kệ tụng nổi bật và các đoạn đối đáp hỏi–đáp. Các chủ đề thường gặp: nếp sống xuất ly, chuẩn mực đạo đức, tranh luận/đối thoại tôn giáo và các câu hỏi về cứu cánh)
  12. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VI) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 6, từ số chuyện 521 đến số 539)
  13. Đại kinh Bốn mươi - Mahàcattàrìsaka sutta (Hệ thống hóa Bát chánh đạo trong mạng lưới trợ duyên ()
  14. Đại kinh Khổ uẩn - Mahàdukkhakkhanda sutta (Dục theo ba mặt: vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly)
  15. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 1: Thế Chủ Diệu Nghiêm (Sự trang nghiêm của cảnh giới Phật, chư thiên tôn kính)
  16. Kinh Tư sát - Vìmamsaka sutta (Nêu phương pháp thẩm định bậc Đạo sư bằng quan sát lâu dài hành vi, lời nói và động cơ, nhấn mạnh tiêu chuẩn đoạn trừ tham–sân–si)
  17. Kinh Kandaraka - Kandaraka sutta (Đối thoại về các khuynh hướng khổ hạnh; phân biệt khổ hạnh hình thức với con đường giải thoát dựa trên chánh hạnh, chánh niệm và đoạn trừ phiền não)
  18. Tương ưng Sanh - Uppāda-saṃyutta (Về sự sinh khởi (uppāda) của các pháp và hệ quả đối với tuệ quán)
  19. Tương ưng Vô thủy - Anamatagga-saṃyutta (Nhấn mạnh luân hồi vô thủy và tính cấp thiết của giải thoát)
  20. Kinh Lohicca (Lô-hi-gia) - Lohicca sutta (Phá tà-kiến: đừng nói pháp cho kẻ khác)
  21. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 26: Thập Địa (Mười giai đoạn tiến tu của Bồ tát)
  22. Kinh Càtumà - Càtumà sutta (Xử lý nhóm tân tỳ-kheo ồn ào; dạy về nguy hiểm/chướng nạn của người mới xuất gia và điều kiện an trú phạm hạnh)
  23. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 14: Tu Di Sơn Đảnh Kệ Tán (Bồ tát ca ngợi công đức Phật bằng kệ)
  24. Kinh An trú tầm - Vtakkasanthàna sutta (Năm phương pháp nhiếp phục tầm bất thiện (đổi đề mục, quán nguy hiểm, không tác ý, điều phục thân tâm, dùng ý chí khi cần).)
  25. Trưởng lão ni kệ - Therīgāthā (Tuyển tập kệ gán cho các trưởng lão ni; nhiều bài là lời tự thuật về hoàn cảnh đời sống, chuyển biến tâm lý và kinh nghiệm tôn giáo của nhân vật. Nội dung cung cấp tư liệu về tiếng nói nữ giới trong văn học Phật giáo sơ kỳ và các mô-típ thường gặp trong kệ tụng (khổ cảnh–chuyển hóa–tuyên ngôn))
  26. Kinh Tướng - Lakkhana sutta (32 tướng đại-trượng-phu do công-đức tu đời trước)
  27. Kinh Đa giới - Bahudhàtuka sutta (Trình bày nhiều hệ phân loại (giới/xứ/duyên) như "bản đồ phân tích" thân–tâm, hỗ trợ phá tà kiến và tuệ quán vô ngã bằng cách thấy các pháp như yếu tố/điều kiện)
  28. Kinh Kevaddha (Kiên Cố) - Kevaddha sutta (Ba loại Thần-thông, thắc-mắc về tứ-đại)
  29. Kinh Bất động lợi ích - Anenjasappàya sutta (Chỉ điều kiện đưa đến "bất động" (định sâu) và cảnh báo chấp thủ chứng đắc vi tế; nhấn mạnh tuệ quán vô thường–vô ngã để vượt dừng ở an ổn tạm thời)
  30. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na - Punnovàda sutta (Đức Phật thử sức Puṇṇa bằng các tình huống bị mắng–đánh–hại, rồi dạy thái độ nhẫn nhục và từ tâm khi hoằng hóa; đạo lực nằm ở vô sân và tuệ tri đúng pháp trước nghịch duyên)
  31. Kinh Tùy phiền não - Upakkilesa sutta (Phân tích các chướng ngại tinh vi trong thiền (ánh sáng, hình tướng, hôn trầm, trạo cử, nghi…); hướng dẫn nhận diện và vượt qua để định–tuệ thuần thục)
  32. Kinh Khu rừng - Vanapattha sutta (Dạy cách xét trú xứ: nơi làm tăng trưởng thiện pháp thì nên ở, nơi gây bất an và tán loạn thì nên rời)
  33. Đại kinh Pháp hành - Mahàdhammasamàdàna sutta (Triển khai rộng chủ đề thọ trì pháp, giải thích kỹ hơn bốn cách thọ trì và đưa ví dụ, nhấn mạnh lựa chọn con đường đem lại an lạc bền vững)
  34. Trường Bộ Kinh - Dīgha-Nikāya (Tên gọi khác: Kinh Trường Bộ, 長部經)
  35. Bộ Kinh Nikaya - Nikāya (Thuộc Kinh tạng Pāli, là một tập hợp nhiều nhiều bài kinh, bộ kinh khác.)
  36. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 15: Thập Trụ (Mười giai đoạn an trụ của tâm Bồ tát)
  37. Tương ưng Nữ nhân - Mātugāma-saṃyutta (Các bài liên hệ nữ nhân/nữ giới trong đời sống và tu học, thiên về khuyến giới/định hướng)
  38. Tiểu kinh Màlunkyà - Cula Màlunkyà sutta (Ví dụ "mũi tên tẩm độc": bác việc sa đà siêu hình; đặt trọng tâm vào Tứ Thánh đế và mục tiêu đoạn khổ)
  39. Kinh Mahàli - Mahàli sutta (Thắc-mắc về Thiên-âm và về mạng-căn)
  40. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 9: Quang Minh Giác (Ánh sáng trí tuệ phá tan u tối, chỉ lối tu)
  41. Đại kinh Xóm ngựa - Mahà-Assapura sutta (Trình bày tuần tự các chuẩn mực của đời sống xuất gia và )
  42. Tương ưng Thôn trưởng - Gāmaṇi-saṃyutta (Các bài về thôn trưởng/cộng đồng: đạo đức, nghiệp và ứng xử xã hội)
  43. Kinh Ghotamukha - Ghotamukha sutta (Nêu tiêu chuẩn đời sống Sa-môn: không đo bằng tiện nghi hay khắc kỷ mà bằng đoạn trừ bất thiện và thanh tịnh nội tâm)
  44. Tương ưng Vô vi - Asaṅkhata-saṃyutta (Nhóm bài về vô vi (không do duyên tạo tác), thường liên hệ Niết-bàn/giải thoát)
  45. Đại kinh Sakuludàyi - Mahàsakuludàyin sutta (Bàn về điều làm nên uy tín bậc đạo sư; thước đo đặt trên giới–định–tuệ và kết quả đoạn trừ phiền não)
  46. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 8: Tứ Thánh Đế (Diễn giảng Tứ đế theo tư tưởng đại thừa (nhân quả))
  47. Kinh Dhànanjàni - Dhànanjàni sutta (Sāriputta thăm người hấp hối và thuyết pháp an ủi; bài học về phương tiện tùy căn cơ nhưng không quên hướng thượng)
  48. Đại kinh Nghiệp phân biệt - Mahàkammavibhanga (Bàn sự phức tạp của quả nghiệp: không thể kết luận vội dựa trên hiện tượng (làm ác vẫn "tốt", làm thiện vẫn "khổ"); nghiệp cần hiểu trong bối cảnh nhiều duyên và nhiều thời đoạn)
  49. Kinh Thánh cầu - Ariyapariyesanà sutta (Thuật lại hành trình tìm đạo: phân biệt "phi thánh cầu" và "thánh cầu", kể việc học đạo, khổ hạnh và chứng ngộ Trung đạo rồi hoằng pháp)
  50. Đại kinh Thí dụ Lõi cây - Mahasaropama-sutta (Ví cây có vỏ, giác và lõi để chỉ nguy cơ nhầm thành tựu trung gian (lợi dưỡng, danh tiếng, tri thức, định lực) với mục tiêu giải thoát)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Quảng Cáo

tử vi