Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Việt Nam » Pāli » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Minh Châu

Kinh Văn

KINH ĐẠI CA-CHIÊN-DIÊN NHẤT DẠ HIỀN GIẢ

Mahàkaccànabhaddekaratta sutta

(Sau bài kệ "nhất dạ hiền giả", Mahākaccāna triển khai nghĩa lý chi tiết theo các uẩn và tiến trình tâm; mẫu mực "tổng thuyết–biệt thuyết" tránh hiểu theo khẩu hiệu)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Minh Châu

Thuộc bộ: , Trung Bộ Kinh, Nikaya, (133)

Ngôn ngữ: Pāli

Việt Nam

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Nội Dung:
Kinh Đại Ca-chiên-diên Nhất dạ hiền giả


Như vầy tôi nghe.

Một thời, Thế Tôn trú ở Rajagaha (Vương Xá), tại Tinh xá Tapoda.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi, thức dậy vừa lúc bình minh đi đến Tapoda để tắm rửa tay chân. Tắm rửa tay chân ở Tapoda xong, sau khi lên khỏi nước, vị ấy đứng mặc một y để tay chân cho khô. Rồi sau khi đêm vừa mãn, một Thiên thần, chói sáng với dung sắc thù thắng cả vùng Tapoda, đi đến Tôn giả Samiddhi, sau khi đến, liền đứng một bên. Ðứng một bên, Thiên Thần ấy thưa Tôn giả Samiddhi:

-- Này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

-- Này Hiền giả, tôi không có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

-- Này Tỷ-kheo, tôi cũng không có thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Tỷ-kheo, Ngài có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

-- Này Hiền giả, tôi không có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả. Nhưng này Hiền giả, Hiền giả có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả không?

-- Này Tỷ-kheo, tôi không có thọ trì bài kệ về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy học tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy học cho thuần thục tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Này Tỷ-kheo, hãy thọ trì tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả. Vì rằng, này Tỷ-kheo, tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả là liên hệ đến mục đích và căn bản của Phạm hạnh.

Thiên thần ấy nói như vậy. Sau khi nói vậy, vị ấy biến mất ở đấy. Rồi Tôn giả Samiddhi sau khi đêm ấy đã mãn, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn :

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con thức dậy vừa lúc bình mình đi đến Tapoda để tắm rửa tay chân. Tắm rửa tay chân ở Tapoda xong, sau khi lên khỏi nước, con đứng mặc một y để tay chân cho khô. Rồi bạch Thế Tôn, sau khi đêm vừa mãn, một Thiên thần, chói sáng với dung sắc thù thắng cả vùng Tapoda, ... và là căn bản Phạm hạnh". Thiên thần ấy nói như vậy. Sau khi nói như vậy, vị ấy biến mất ở đấy. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết giảng cho tổng thuyết và biệt thuyết về Nhứt Dạ Hiền Giả!

-- Vậy này Tỷ-kheo, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau :

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, Thiện Thệ từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá,

Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, liền suy nghĩ: "Này chư Hiền, Thế Tôn sau khi thuyết giảng phần tổng thuyết một cách vắn tắt cho chúng ta, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá :

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Nay không biết ai có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi".

Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ như sau: "Tôn giả Mahakaccana (Ðại Ca-chiên-diên) này đã được Thế Tôn tán thán và được các đồng Phạm hạnh có trí kính trọng; Tôn giả Mahakaccana có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi. Vậy chúng ta hãy đến Tôn giả Mahakaccana, sau khi đến chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahakaccana về ý nghĩa này".

Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Tôn giả Mahakaccana, sau khi đến nói lên với Tôn giả Mahakaccana những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy thưa với Tôn giả Mahakaccana :

-- Thưa Hiền giả Kaccana, Thế Tôn sau khi đọc tổng thuyết này, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đi vào tinh xá :

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Nay không biết ai có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi. Rồi này Hiền giả Kaccana, chúng tôi suy nghĩ như sau: "Tôn giả Mahakaccana này đã được Thế Tôn tán thán ... chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahakaccana về ý nghĩa này". Tôn giả Mahakaccana hãy giải thích cho.

-- Này chư Hiền, ví như một người cần thiết lõi cây, tìm cầu lõi cây, đang đi tìm cầu lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây. Người ấy bỏ rễ, bỏ thân cây, nghĩ rằng lõi cây cần phải tìm trong các nhánh cây, lá cây. Cũng vậy, là việc làm của chư Tôn giả... Chư Tôn giả đứng trước mặt Thế Tôn, chư Tôn giả lại vượt qua Thế Tôn, và nghĩ rằng cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này. Nhưng này chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc Trí giả, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc Tuyên thuyết giả, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời, chư Hiền hãy đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chư Hiền như thế nào, chư Hiền hãy như vậy thọ trì.

-- Thưa Hiền giả Kaccana, chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc Trí giả, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc Tuyên thuyết giả, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai.. Nay đã đến thời chúng tôi đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chúng tôi như thế nào, chúng tôi sẽ như vậy thọ trì. Nhưng Tôn giả Mahakaccana được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh kính trọng. Tôn giả Mahakaccana có thể giải thích một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn nói lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi. Mong Tôn giả Mahakaccana giải thích cho nếu Tôn giả không cảm thấy phiền phức.

-- Vậy chư hiền, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, tôi sẽ nói.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Mahakaccana. Tôn giả Mahakaccana nói như sau :

-- Này Hiền giả, phần tổng thuyết Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào trong tinh xá:

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Về phần tổng thuyết này chỉ được Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi, này chư Hiền, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như sau :

Này chư Hiền, thế nào là truy tìm quá khứ? "Mắt của tôi trong thời quá khứ là như vậy, các sắc pháp là như vậy", và thức ở đây bị dục và ái trói chặt. Vì thức bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Vì hân hoan trong ấy, vị ấy truy tìm quá khứ. "Tai của tôi trong quá khứ là như vậy, các tiếng là như vậy"... "Mũi của tôi trong quá khứ là như vậy, các hương là như vậy"... "Lưỡi của tôi trong quá khứ là như vậy, các vị là như vậy"... "Thân của tôi trong quá khứ là như vậy, các xúc là như vậy"... "Ý của tôi trong quá khứ là như vậy, các pháp là như vậy", và thức ở đây, bị dục và ái trói chặt. Vì rằng thức bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Vì hân hoan trong ấy, vị ấy truy tìm quá khứ.

Và này chư Hiền, thế nào là không truy tìm quá khứ? "Mắt của tôi trong thời quá khứ là như vậy, các sắc pháp là như vậy", và thức ở đây không bị dục và ái trói chặt. Vì thức không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Vì không hân hoan trong ấy, vị ấy không truy tìm quá khứ. "Tai của tôi trong quá khứ là như vậy, các tiếng là như vậy",... "Mũi của tôi trong quá khứ là như vậy, các hương là như vậy",... "Lưỡi của tôi trong quá khứ là như vậy, các vị là như vậy",... "Thân của tôi trong quá khứ là như vậy, các xúc là như vậy", ... "Ý của tôi trong quá khứ là như vậy, các pháp là như vậy", và thức ở đây không bị dục và ái trói chặt. Vì thức không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Vì không hân hoan trong ấy, vị ấy không truy tìm quá khứ. Như vậy, này chư Hiền, là không truy tìm quá khứ.

Và này chư Hiền, thế nào là ước vọng tương lai? "Mong rằng mắt của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các sắc pháp là như vậy", và vị ấy hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Vì duyên hướng tâm như vậy, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy ước vọng tương lai. "Mong rằng tai của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các tiếng là như vậy",... "Mong rằng mũi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các hương là như vậy",... "Mong rằng lưỡi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các vị là như vậy",... "Mong rằng thân của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các xúc là như vậy",... "Mong rằng ý của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các pháp là như vậy", và vị ấy hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Vì duyên hướng tâm như vậy, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy ước vọng tương lai. Như vậy, này chư Hiền, là ước vọng tương lai.

Và này chư Hiền, thế nào là không ước vọng tương lai? "Mong rằng mắt của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các sắc pháp là như vậy", vị ấy không hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Do duyên không hướng tâm, vị ấy không hân hoan trong ấy, vị ấy không có ước vọng tương lai. "Mong rằng tai của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các tiếng là như vậy",... "Mong rằng mũi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các hương là như vậy", ... "Mong rằng lưỡi của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các vị là như vậy",... "Mong rằng thân của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các xúc là như vậy", ... "Mong rằng ý của tôi trong tương lai sẽ là như vậy, các pháp là như vậy", vị ấy không hướng tâm lấy cho được cái gì chưa được. Do duyên không hướng tâm, vị ấy không hân hoan trong ấy. Do không hân hoan trong ấy, vị ấy không có ước vọng tương lai. Như vậy, này chư Hiền, là không ước vọng tương lai.

Và này chư Hiền, thế nào là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Này chư Hiền, nếu mắt và các sắc pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Này chư Hiền, nếu tai và các tiếng... nếu mũi và các hương ... nếu lưỡi và các vị... nếu thân và các xúc... Này chư Hiền nếu ý và các pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy bị dục và ái trói chặt, vị ấy hân hoan trong ấy. Do hân hoan trong ấy, vị ấy bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Như vậy, này chư Hiền, là bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Và này chư Hiền, thế nào là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại? Này chư Hiền, nếu mắt và các sắc pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Do không hân hoan trong ấy, vị ấy không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Này chư Hiền, nếu tai và các tiếng... Này chư Hiền, nếu mũi và các hương... Này chư Hiền, nếu lưỡi và các vị... Này chư Hiền, nếu thân và các xúc... Này chư Hiền, nếu ý và các pháp, cả hai đều có mặt trong hiện tại này, và thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt cũng trong hiện tại này. Vì thức của vị ấy không bị dục và ái trói chặt, vị ấy không hân hoan trong ấy. Do không hân hoan trong ấy, vị ấy không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại. Như vậy, này chư Hiền là không bị lôi cuốn trong các pháp hiện tại.

Này chư Hiền, phần tổng thuyết Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy và đã đi vào trong tinh xá :

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Phần tổng thuyết này, này chư Hiền, được Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi; này chư Hiền, tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Và nếu chư Tôn giả muốn, hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích các Tôn giả như thế nào, hãy như vậy thọ trì.

Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ tín thọ lời Tôn giả Mahakaccana giảng, từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn :

-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn sau khi đọc phần tổng thuyết một cách vắn tắt cho chúng con, không giải nghĩa một cách rộng rãi, từ chỗ ngồi đứng dậy, và đi vào tinh xá :

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn đi không bao lâu, chúng con suy nghĩ như sau : "Thế Tôn sau khi đọc phần tổng thuyết một cách vắn tắt cho chúng con, không giải nghĩa một cách rộng rãi, và đã đi vào tinh xá :

Quá khứ không truy tìm
Tương lai không ước vọng,
Quá khứ đã đoạn tận,
Tương lai lại chưa đến,
Chỉ có pháp hiện tại,
Tuệ quán chính ở đây.
Không động, không rung chuyển,
Biết vậy nên tu tập
Hôm nay nhiệt tâm làm
Ai biết chết ngày mai?
Không ai điều đình được
Với đại quân thần chết,
Trú như vậy nhiệt tâm
Ðêm ngày không mệt mỏi,
Xứng gọi Nhứt dạ Hiền,
Bậc an tịnh, trầm lặng.

Nay không biết ai có thể giải nghĩa một cách rộng rãi tổng thuyết này, phần này chỉ được Thế Tôn đọc lên một cách vắn tắt, không được giải nghĩa một cách rộng rãi".

Rồi bạch Thế Tôn, chúng con suy nghĩ như sau : "Tôn giả Mahakaccana (Ðại Ca chiên diên) này... chúng ta hãy hỏi Tôn giả Mahakaccana về ý nghĩa này. "Rồi bạch Thế Tôn, chúng con đi đến Tôn giả Mahakaccana, sau khi đến chúng con hỏi Tôn giả Mahakaccana về ý nghĩa này. Ý nghĩa của những chữ ấy đã được Tôn giả Mahakaccana giải thích cho chúng con với những phương pháp này, các những câu này, với những chữ này.

-- Này các Tỷ-kheo, Mahakaccana là bậc Hiền trí. Này các Tỷ-kheo, Mahakaccana là bậc Ðại trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng giải thích cho các Ông như vậy, như Mahakaccana đã giải thích. Thật sự ý nghĩa ấy là vậy, và các Ông hãy thọ trì như vậy.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Kinh Thanh tịnh - Pàsàdika sutta (Khác phái loã-thể, Chánh Pháp đưa tới thanh-tịnh)
  2. Kinh Kùtadanta (Cứu-la-đàn-đầu) - Kùtadanta sutta (Cách tế-lễ được nhiều phước-đức)
  3. Đại kinh Xóm ngựa - Mahà-Assapura sutta (Trình bày tuần tự các chuẩn mực của đời sống xuất gia và )
  4. Tương Ưng Thiên Tử - Devaputta-saṃyutta (Đối thoại/kệ với các "thiên tử" (devaputta), thường nêu vấn đề đạo đức và tu tập)
  5. Kinh Khất thực thanh tịnh - Pindapàtapàrisuddhi sutta (Đặt "thanh tịnh khất thực" như pháp môn tự kiểm tâm trước–trong–sau khi khất thực (dục tham/sân/hại…); biến sinh hoạt thường nhật thành cơ chế tịnh hóa tâm cụ thể)
  6. Tương ưng Thần mây - Valāhaka-saṃyutta (Nhóm bài liên hệ "thần mây" (valāhaka), thường làm bối cảnh kể/giảng pháp)
  7. Kinh Angulimàla - Angulimàla sutta (Cảm hóa kẻ sát nhân Aṅgulimāla; nêu khả năng chuyển hóa và "quay đầu" nhờ từ bi và tu tập, dù vẫn chịu quả hiện đời)
  8. Kinh Bất động lợi ích - Anenjasappàya sutta (Chỉ điều kiện đưa đến "bất động" (định sâu) và cảnh báo chấp thủ chứng đắc vi tế; nhấn mạnh tuệ quán vô thường–vô ngã để vượt dừng ở an ổn tạm thời)
  9. Kinh Phạm Thiên cầu thỉnh - Brahmanimantanika sutta (Kể việc đến cõi Phạm thiên để phá chấp "Phạm thiên" thường hằng và nhấn mạnh các cảnh giới thiền vẫn vô thường, không phải cứu cánh giải thoát)
  10. Tương ưng Rừng - Vana-saṃyutta (Kệ liên quan đời sống viễn ly nơi rừng và tinh thần hành trì chỗ tịch mịch)
  11. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 8: Tứ Thánh Đế (Diễn giảng Tứ đế theo tư tưởng đại thừa (nhân quả))
  12. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 33: Phật Bất Tư Nghì (Pháp môn không thể nghĩ bàn của Phật)
  13. Kinh Tâm hoang vu - Cetokhila sutta (Chỉ ra các chướng ngại khiến tu thiền không tiến ()
  14. Kinh Sàleyyaka - Sàleyyaka sutta (Giảng cho cư sĩ về mười nghiệp đạo, đối chiếu nghiệp thân–khẩu–ý bất thiện và thiện cùng quả báo tương ứng)
  15. Kinh Tevijja (Tam minh) - Tevijja sutta (Con đường thẳng-tắp đi đến cõi Trời Phạm)
  16. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VI) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 6, từ số chuyện 521 đến số 539)
  17. Kinh Nói cho dân Nagaravinda - Nagaravindeyya sutta (Dạy dân chúng tiêu chuẩn đánh giá Sa-môn/Bà-la-môn bằng chánh hạnh: ai tham–sân–dối trá–kiêu mạn thì không đáng tôn; ai ly tham, chánh trực, nhu hòa thì đáng nương tựa)
  18. Chương năm pháp - Pañcakanipāta (Theo năm pháp, xoay quanh các nhóm quan trọng cho tu tập và đời sống. Vấn đề quan trọng: tính "thực dụng" của pháp số—nhiều nhóm năm như checklist tự kiểm, phòng hộ, điều chỉnh hành vi)
  19. Thiên Cung Sự - Vimānavatthu (Tập các truyện kể (nhiều đoạn ở dạng kệ) về chư thiên và "thiên cung", thường mở ra từ một câu hỏi/đối thoại rồi giải thích nguyên nhân quá khứ. Trọng tâm nội dung là mối liên hệ giữa hành động (đặc biệt công đức) và quả báo tái sinh trong các cảnh giới an lạc)
  20. Tương ưng Rāhula - Rāhula-saṃyutta (Lời dạy liên hệ Rāhula: tự quán sát, học pháp và thực hành đúng căn cơ)
  21. Kinh Thiên sứ - Devadùta sutta (Nêu "thiên sứ" như già–bệnh–chết và các cảnh tỉnh khác; dùng hình tượng Diêm vương/địa ngục để nhấn mạnh trách nhiệm đạo đức và tinh thần không phóng dật)
  22. Kinh Tệ-túc - Pàyàsi sutta (Phá tà-kiến "chẳng có Luân-hồi, quả-báo")
  23. Kinh Potaliya - Potaliya sutta (Tái định nghĩa "xuất ly": không chỉ rút khỏi việc đời mà là đoạn trừ các tập khí bất thiện và thiết lập chuẩn mực sống đưa đến an tịnh)
  24. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 9: Quang Minh Giác (Ánh sáng trí tuệ phá tan u tối, chỉ lối tu)
  25. Kinh Makhàdeva - Makhàdeva sutta (Chuyện vua thấy tóc bạc liền xuất ly; khích lệ tinh tấn và không phóng dật trước già–bệnh–chết)
  26. Tương ưng Anuruddha - Anuruddha-saṃyutta (Liên hệ Anuruddha, làm nổi bật rèn luyện nội tâm và mặt thực chứng)
  27. Kinh Đại Ca-chiên-diên Nhất dạ hiền giả - Mahàkaccànabhaddekaratta sutta (Sau bài kệ "nhất dạ hiền giả", Mahākaccāna triển khai nghĩa lý chi tiết theo các uẩn và tiến trình tâm; mẫu mực "tổng thuyết–biệt thuyết" tránh hiểu theo khẩu hiệu)
  28. Kinh Pháp Cú - Dhammapada (Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikaya) trong Kinh tạng Pali (Suttanta Pitaka). Ðây là một quyển kinh Phật giáo phổ thông nhất và đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng trên thế giới)
  29. Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh - 般若波羅蜜多心經 (Bát Nhã Tâm Kinh)
  30. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (I) - Jātaka (Tập hợp truyện tiền thân (jātaka) gắn với tiền kiếp của Đức Phật/Bồ-tát; thường là truyện kể kèm kệ, với mô-típ nhân vật, tình huống và lời kết luận đạo đức trong cấu trúc truyện. Nội dung chủ yếu là các tình huống lựa chọn và hành vi, qua đó trình bày các phẩm chất/đức hạnh được nêu trong truyền thống truyện tiền thân)
  31. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 23: Thăng Đâu Suất Thiên Cung (Phật lên cõi trời Đâu Suất (nơi Bồ tát Di Lặc ở))
  32. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 17: Sơ Phát Tâm Công Đức (Công đức vô lượng của người mới phát tâm bồ đề)
  33. Đại kinh Mãn nguyệt - Mahàpunnama sutta (Giảng sâu về ngũ uẩn/thủ uẩn: vô minh dẫn đến chấp thủ; quán vô thường–khổ–vô ngã đưa đến yếm ly, ly tham và giải thoát)
  34. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (III) - Jàtaka (Tiếp theo Chuyện Tiền Thân Đức Phật 2, từ chuyện 264 đến chuyện 395)
  35. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 31: Thọ Lượng (Tuổi thọ dài lâu của Phật)
  36. Kinh A-na-luật - Anuruddha sutta (Làm rõ các yếu tố đưa đến tâm giải thoát: viễn ly, không phóng dật, tinh tấn và tuệ tri như thật; cảnh báo không chấp thủ các sở đắc, phải hướng đến đoạn tận lậu hoặc)
  37. Kinh Ví dụ con rắn - Alagaddùpama sutta (Cảnh báo hiểu sai giáo pháp, nêu ví dụ bắt rắn sai cách và ví dụ chiếc bè qua sông để nhấn mạnh dùng Pháp như phương tiện, không chấp thủ)
  38. Kinh Sa-môn quả - Sàmannaphala sutta (Các lợi-ích thiết-thực của Quả-vi Sa-môn)
  39. Kinh Ái sanh - Piyajàtika sutta (Dạy rằng sầu bi phát sinh từ thương mến/ái trước; minh họa bằng các câu chuyện liên hệ vua Pasenadi và hoàng hậu Mallikā)
  40. Kinh Bất đoạn - Anupada sutta (Tán dương Xá-lợi-phất tuệ tri "không gián đoạn" trong từng tầng thiền/chứng đắc; minh họa mô hình kết hợp định sâu và tuệ quán vi tế)
  41. Kinh Ambattha (A-ma-trú) - Ambattha sutta (Chớ hãnh-diện về dòng-họ và giai-cấp)
  42. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 38: Ly Thế Gian (Bồ tát vượt thoát sự ràng buộc của thế gian)
  43. Tương ưng Vô vi - Asaṅkhata-saṃyutta (Nhóm bài về vô vi (không do duyên tạo tác), thường liên hệ Niết-bàn/giải thoát)
  44. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 18: Minh Pháp (Làm sáng tỏ các pháp tu hành)
  45. Kinh Sáu Thanh tịnh - Chabbisodhana sutta (Đặt tiêu chuẩn cho việc tuyên bố chứng đắc (sáu mặt) để tránh nói quá/tự cao; nhấn mạnh chân thật, đúng thời và bảo hộ sự thanh tịnh cộng đồng)
  46. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (V) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 5, từ số chuyện 473 đến số 520)
  47. Kinh Ví dụ tấm vải - Vatthùpama sutta (Dùng ẩn dụ Tấm Vải để nói về thanh tịnh tâm)
  48. Kinh Ca-diếp Sư tử hống - Kassapa-Sìhanàda sutta (Thiếu-sót của việc tu Phạm-chí khổ-hạnh quá ép-xác)
  49. Kinh Phạm võng - Brahmajàla sutta (Kinh nói về lưới tà kiến cõi Phạm)
  50. Tương ưng Loài rồng - Nāga-saṃyutta (Nhóm bài liên hệ nāga, thiên về minh họa/đối thoại trong bối cảnh giáo hóa)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm:

壽衣
thọ y

Xem thêm:

soạ, sá, sái, xoạ [ shuǎ ]

800D, tổng 9 nét, bộ nhi 而 (+3 nét)

Nghĩa: đùa bỡn

Quảng Cáo

thợ nhôm kính