Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Hán » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Trí Tịnh

Kinh Văn

KINH HOA NGHIÊM PHẨM 24: ĐÂU SUẤT KỆ TÁN

(Bồ tát ca ngợi Phật tại cõi Đâu Suất)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Trí Tịnh

Thuộc bộ: , Hoa Nghiêm Kinh, (26)

Ngôn ngữ: Hán

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Dịch nghĩa:
Bồ tát ca ngợi Phật tại cõi Đâu Suất


Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh – Tập 10 – Số 279 (Hoa Nghiêm Bộ)
Buddhavatamsaka Mahavaipulya Sutra
大方廣佛華嚴經 – Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Ngài Bồ tát Long Thụ (thế kỷ II) thỉnh từ cung rồng Ta Kiệt La
Nước Trung Hoa – triều Đại Đường (618~907) – đời Võ Chu (690~705)
Đại sư Thật Xoa Nan Đà (652~710) Hán dịch từ Phạn văn năm 695
Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1917~2014) Việt dịch từ Hán văn
Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm 1983
daithua.com biên tập năm 2020

ĐÂU SUẤT KỆ TÁN


Lúc đó do thần lực của Đức Phật, Mười Phương ngoài vạn Phật sát vi trần số thế giới, mỗi phương đều có một Đại Bồ tát cùng vạn Phật sát vi trần số Bồ tát câu hội.

Kim Cang Tràng Bồ tát từ Diệu Bửu thế giới của Đức Phật Vô Tận Tràng;

Kiên Cố Tràng Bồ tát từ Diệu Lạc thế giới của Đức Phật Phong Tràng;

Dũng Mãnh Tràng Bồ tát từ Diệu Ngân thế giới của Đức Phật Giải Thoát Tràng;

Quang Minh Tràng Bồ tát từ Diệu Kim thế giới của Đức Phật oai Nghi Tràng;

Trí Tràng Bồ tát từ Diệu Ma Ni thế giới của Đức Phật Minh Tường Tràng;

Bửu Tràng Bồ tát từ Diệu Kim Cang thế giới của Đức Phật Thường Tràng;

Tinh Tấn Tràng Bồ tát từ Diệu Ba Đầu Ma thế giới của Đức Phật Tối Thắng Tràng;

Ly Cấu Tràng Bồ tát từ Diệu Ưu Bát La thế giới của Đức Phật Tự Tại Tràng;

Tinh Tú Tràng Bồ tát từ Diệu Chiên Đàn thế giới của Đức Phật Phạm Tràng;

Pháp Tràng Bồ tát từ Diệu Hương thế giới của Đức Phật Quan Sát Tràng.

Chúng Bồ tát khi đến trước Đức Phật và đảnh lễ Phật xong, tùy theo phương của mình đến, đều hóa hiện tòa sư tử Diệu Bửu Tạng rồi ngồi kiết già trên đó.

Thân của chư Bồ tát đều phóng trăm ngàn ức na do tha vô số quang minh thanh tịnh, quang minh này đều từ tâm thanh tịnh, cùng đại nguyện rời lìa những lỗi ác mà phát khởi, hiển thị pháp tự tại thanh tịnh của tất cả Phật.

Bởi chư Bồ tát có nguyện lực có thế cứu hộ khắp tất cả chúng sanh, tất cả thế gian đều thích thấy.

Ai thấy Bồ tát đều được lợi ích được điều phục.

Chúng Bồ tát này đều đã thành tựu vô lượng công đức. Những là đi khắp tất cả cõi Phật không chướng ngại, thấy Pháp thân thanh tịnh không nương đỗ, dùng trí huệ thân hiện vô lượng thân, đến khắp Mười Phương phụng thờ Chư Phật, vào nơi vô lượng vô biên bất tư nghì pháp tự tại của Chư Phật, trụ nơi vô lượng môn Nhất thiết trí, dùng trí quang minh khéo rõ các pháp, ở trong các pháp được vô úy biện tài thuyết pháp vộ tận, dùng đại trí huệ khai môn tổng trì, huệ nhãn thanh tịnh thâm nhập Pháp giới cảnh giới trí huệ không ngằn mé, rốt ráo thanh tịnh như hư không.

Tất cả Đâu Suất Thiên cung trong thập phương thế giới đều có chư Bồ tát đồng số lượng, đồng danh hiệu, thế giới và Chư Phật cũng đồng như nơi đây cả.
Bấy giờ đức Thế Tôn từ hai gối phóng trăm ngàn ức na do tha quang minh, chiếu khắp tất cả thế giới tận Pháp giới hư không giới.

Chúng Bồ tát ở các cõi kia đều thấy thần biến của Đức Phật ở đây. Chúng Bồ tát ở cõi đây đều thấy biến của tất cả Chư Phật kia.

Tất cả chúng Bồ tát như vậy, cùng với đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, từ thuở xưa, đồng trồng căn lành tu Bồ tát hạnh, đều đã ngộ nhập thậm thâm giải thoát tự tại của Chư Phật, được Pháp giới thân bình đẳng, vào tất cả thế giới mà vẫn vô trụ, thấy vô lượng Phật đều qua kính thờ, trong một niệm đi khắp Pháp giới tự tại vô ngại, tâm ý thanh tịnh như bửu châu vô giá, vô lượng vô số Chư Phật thường hộ niệm và đồng ban cho thần lực, đến nơi bờ rốt ráo đệ nhứt kia luôn dùng tịnh niệm trụ vô thượng giác, niệm niệm luôn vào chỗ Nhứt thiết trí, đem nhỏ vào lớn, đem lớn vào nhỏ đều tự tại, thông đạt vô ngại đã được Phật thân, cùng Phật đồng an trụ, được Nhứt thiết trí, từ Nhứt thiết trí mà sanh ra thân, đều có thể theo vào chỗ sở hành của tất cả Như Lai mà khai xiển vô lượng Pháp môn trí huệ, đến bờ Kim Cang tràng đại trí kia, được Kim Cang định dứt các điều nghi hoặc, đã được tự tại thần thông của Chư Phật, vào khắp tất cả quốc độ mười phương, giáo hóa điều phục trăm ngàn muôn ức vô số chúng sanh, dầu không tham trước nơi tất cả số lượng mà có thể tu học thành tựu cứu cánh, phương tiện an lập các pháp.

Trăm ngàn ức na do tha bất khả thuyết vô lượng tạng công đức thanh tịnh vô tận như vậy, chúng Bồ tát này đều được thành tựu.

Kim Cang Tràng Bồ tát thừa thần lực của Đức Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Như Lai chẳng xuất thế
Cũng chẳng nhập Niết Bàn
Dùng sức bổn nguyện lớn
Thị hiện pháp tự tại.
Pháp này khó nghĩ bàn
Tâm không duyên đến được
Trí huệ đến bời kia
Mới thấy cảnh giới Phật.
Sắc thân chẳng phải Phật.
Âm thinh cũng chẳng phải
Nhưng chẳng lìa sắc, thinh
Thấy thần lực của Phật.
Trí kém chẳng biết được.
Cảnh giới thiệt của Phật
Tu hạnh thanh tịnh lâu
Mới thấy được cảnh Phật.
Chánh giác không chỗ lại
Đi cũng chẳng từ đâu
Sắc thân diệu thanh tịnh
Do thần lực hiển hiện.
Trong vô lượng thế giới
Thị hiện thân Như Lai
Nói rộng pháp vi diệu
Trong tâm không trụ trước.
Trí huệ không ngằn mé
Rõ thấu tất cả pháp
Vào khắp các Pháp giới
Thị hiện sức tự tại.
Chúng sanh và các pháp
Rõ thấu đều vô ngại
Khắp hiện các sắc tượng
Cùng khắp tất cả cõi.
Muốn cầu Nhứt thiết trí
Chóng thành Vô Thượng Giác
Phải dùng tâm tịnh diệu
Tu tập hạnh Bồ đề.
Nếu ai thấy Như Lai
Oai thần lực như vậy.
Nơi đức Tối Thắng Tôn
Nên cúng dường chớ nghi.

Kiên Cố Tràng Bồ tát thừa thần lực của Đức Phật quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Phật tối thắng vô tỷ
Rất sâu bất khả thuyết
Vượt khỏi đường ngôn ngữ
Thanh tịnh như hư không.
Quán sát đấng Đạo sư
Sức tự tại thần thông
Đã lìa nơi phân biệt.
Mà khiến phân biệt thấy.
Đức Phật vì khai diễn
Pháp vi diệu thậm thâm
Vì do nhơn duyên ấy
Hiện thân vô tỷ này.
Đây là chỗ Chư Phật
Đại trí huệ sở hành
Nếu ai muốn biết rõ
Phải nên gần gũi Phật.
Ý nghiệp thường thanh tịnh
Cúng dường chư Như Lai
Trọn không lòng mỏi nhàm
Hay vào nơi Phật đạo.
Đủ vô tận công đức
Trụ chắc tâm Bồ đề.
Do đây trừ lưới nghi
Quán Phật không nhàm mỏi.
Thông đại tất cả pháp
Mới phải chơn Phật tử
Người này rõ biết được
Sức tự tại Chư Phật.
Trí quảng đại đã nói
Làm căn bổn các pháp
Nên sanh lòng hy vọng
Chí cầu Vô Thượng Giác.
Nếu ai tôn kính Phật
Nhớ báo đáp ơn Phật
Người đó chẳng xa lìa
Chỗ an trụ của Phật.
Đâu có người trí huệ
Nơi Phật thường thấy nghe
Chẳng tu nguyện thanh tịnh
Nơi đường Phật đã đi.

Dũng Mãnh Tràng Bồ tát thừa thần lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Ví như mắt tỏ sáng
Ban ngày thấy hình sắc
Tâm thanh tịnh cũng vậy
Nhờ Phật lực thấy Phật.
Như dùng sức tinh tấn
Hay tột nguồn đáy biển
Trí lực cũng như vậy
Thấy được vô lượng Phật.
Ví như ruộng phì nhiêu
Gieo trồng tất tươi tốt
Tâm thanh tịnh như vậy
Xuất sanh các Phật pháp.
Như người được bửu tạng
Lìa hẳn khổ nghèo cùng
Bồ tát được Phật pháp
Tâm ly cấu thanh tịnh.
Ví như thuốc Già đà
Tiêu được tất cả độc
Phật pháp cũng như vậy
Diệt các hoạn phiền não.
Chơn thiệt thiện tri thức
Hạng Như Lai ngợi khen
Vì do oai thần kia
Được nghe những Phật pháp.
Giả sử vô số kiếp
Của báu cúng dường Phật.
Chẳng biết Phật thiệt tướng
Cũng chẳng gọi cúng dường.
Vô lượng những hình sắc
Trang nghiêm nơi thân Phật.
Chẳng phải trong hình sắc
Mà thấy được Đức Phật.
Như Lai Đẳng Chánh Giác
Tịch nhiên hằng bất động
Có thể khắp hiện thân
Đầy khắp mười phương cõi.
Ví như hư không giới
Bất sanh cũng bất diệt
Phật pháp cũng như vậy
Rốt ráo không sanh diệt.

Quang Minh Tràng Bồ tát thừa thần lực của Đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Nhơn gian và Thiên thượng
Tất cả các thế giới
Khắp thấy đức Như Lai
Sắc thân diệu thanh tịnh.
Ví như một tâm niệm
Hay sanh các thứ tâm
Như vậy một Phật thân
Khắp hiện tất cả Phật.
Bồ đề không hai pháp
Cũng không có các tướng
Mà ở trong hai pháp
Hiện thân tướng trang nghiêm.
Rõ pháp tánh không tịch
Sanh khởi như huyễn hóa
Sở hành luôn vô tận
Đạo sư hiện như vậy.
Tam thế tất cả Phật
Pháp thân đều thanh tịnh
Tùy kia chỗ đáng độ
Khắp hiện diệu sắc thân.
Như Lai chẳng nghĩ rằng
Ta hiện thân như vậy
Tự nhiên mà thị hiện
Chưa từng có phân biệt.
Pháp giới không sai biệt.
Cũng không chỗ tựa nương
Mà ở trong thế gian
Thị hiện vô lượng thân.
Phật thân chẳng phải hóa
Cũng chẳng phải chẳng hóa
Nơi trong pháp không hóa
Thị hiện thân biến hóa
Chánh giác chẳng lường được
Đồng Pháp giới hư không
Sâu rộng không bờ đáy
Đường ngôn ngữ tuyệt hẳn.
Như Lai khéo thông đạt
Tất cả xứ hành đạo
Pháp giới các quốc độ
Qua đến đều vô ngại.

Trí Tràng Bồ tát thừa thần lực của Đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Nếu người tin thọ được
Nhứt thiết trí vô ngại
Tu tập hạnh Bồ đề
Tâm đó chẳng thể lường.
Trong tất cả quốc độ
Khắp hiện vô lượng thân
Mà thân không chỗ ở
Cũng chẳng trụ nơi pháp.
Mỗi mỗi chư Như Lai
Thần lực thị hiện thân
Bất tư nghì kiếp số
Tánh đếm chẳng hết được.
Tam thế các chúng sanh
Trọn biết được số lượng
Việc thị hiện của Phật
Số lượng chẳng thể được.
Có lúc hiện một hai
Nhẫn đến vô lượng thân
Hiện khắp mười phương cõi
Thiệt ra không hai thứ.
Ví như trăng tròn sáng
Hiện khắp các dòng nước
Bóng hình dầu vô lượng
Mặt trăng vẫn không hai.
Trí vô ngại như vậy
Thành tựu bực Chánh Giác.
Hiện khắp tất cả cõi
Phật thể cũng không hai.
Chẳng một cũng chẳng hai.
Cũng chẳng phải vô lượng
Tùy chỗ đáng hóa độ
Thị hiện vô lượng thân.
Phật thân chẳng quá khứ
Cũng chẳng phải vị lai
Một niệm hiện xuất sanh
Thành đạo và Niết Bàn.
Hiện hình sắc như huyễn
Không sanh cũng không khởi
Phật thân cũng như vậy
Thị hiện không có sanh.

Bửu Tràng Bồ tát thừa thần lực của Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Phật thân vốn vô lượng
Thiện hiện thân hữu lượng
Tùy chúng chỗ nên thấy
Đạo sư hiện như vậy.
Phật thân không nơi chỗ
Đầy khắp tất cả chỗ
Như hư không vô biên
Khó nghĩ bàn như vậy.
Chẳng phải chỗ tâm duyên
Tâm chẳng khởi trong đó
Trong cảnh giới Chư Phật
Rốt ráo không sanh diệt.
Như mắt lòa xem thấy
Chẳng trong cũng chẳng ngoài
Thế gian thấy Chư Phật
Phải biết cũng như vậy.
Vì lợi ích chúng sanh.
Nên Phật hiện ra đời
Chúng sanh thấy có hiện
Thiệt thì không có hiện.
Chẳng thể dùng quốc độ
Ngày đêm mà thấy Phật
Năm tháng một sát na
Phải biết đều như vậy.
Chúng sanh nói như vậy
Ngày đó Phật thành đạo
Như Lai được Bồ đề.
Thiệt chẳng thuộc thời gian.
Như Lai lìa phân biệt
Rời thời gian, không gian
Tam thế chư Như Lai
Xuất hiện đều như vậy.
Ví như mặt trời sáng
Chẳng hiệp cùng đêm tối
Mà nói ngày đêm ấy
Phật pháp đều như vậy.
Tam thế tất cả kiếp
Chẳng cùng Như Lai hiệp
Mà nói tam thế Phật
Phật pháp đều như vậy.

Tinh tấn Tràng Bồ tát thừa thần lực của Đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Tất cả các Đạo sư
Thân đồng nghĩa cũng đồng
Khắp cả mười phương cõi
Tùy nghi mà thị hiện.
Quan sát đấng Mâu Ni.
Chỗ làm rất kỳ đặc.
Đầy khắp cả Pháp giới
Tất cả đều không thừa.
Phật thân chẳng ở trong
Cũng chẳng ở nơi ngoài
Thần lực nên hiển hiện
Đạo sư pháp như vậy.
Theo các loài chúng sanh.
Nghiệp đã họp đời trước
Những loại thân như vậy.
Thị hiện đều chẳng đồng.
Thân Chư Phật như vậy
Vô lượng chẳng đếm được
Chỉ trừ đấng Đại Giác
Không ai nghĩ bàn được.
Như ngã nan tư kia
Tâm nghiệp chẳng đến được
Phật nan tư cũng vậy
Chẳng phải tâm nghiệp hiện.
Như quốc độ nan tư
Mà thấy tịnh trang nghiêm
Phật nan tư cũng vậy
Diệu tướng đều hiện đủ.
Ví như tất cả pháp
Do các duyên sanh khởi
Thấy Phật cũng như vậy
Tất nhờ các thiện nghiệp.
Ví như châu như ý
Hay thoả mãn lòng chúng
Chư Phật pháp như vậy
Thỏa mãn tất cả nguyện.
Trong vô lượng quốc độ.
Đạo sư hiện ra đời
Vì tùy theo nguyện lực
Ứng hiện khắp mười phương.

Ly Cấu Tràng Bồ tát thừa thần lực của Đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Như Lai đại trí quang
Thanh tịnh khắp thế gian
Thế gian đã thanh tịnh
Khai thị các Phật pháp
Như có người muốn thấy
Phật đồng số chúng sanh
Đều ứng như tâm kia
Mà thiệt không chỗ đến
Dùng Phật làm cảnh giới
Chuyên niệm mà chẳng dứt
Người này được thấy Phật
Số đó cùng tâm đồng
Thành tựu pháp lành trong
Đầy đủ các công đúc
Đối với nhất thiết trí
Chuyên niệm tâm chẳng bỏ
Đạo sư vì chúng sanh
Tùy nghi mà thuyết pháp
Theo chỗ đáng hóa độ
Khắp hiện thân tối thắng
Phật thân và thế gian
Tất cả đều vô ngã
Ngộ đây thành chánh giác
Lại đem dạy chúng sanh
Tất cả đấng Như Lai
Vô lượng sức tự tại
Hiện thân đồng tâm niệm
Thân ấy đều chẳng đồng
Thế gian thân như vậy
Chư Phật thân cũng vậy
Rõ biết tự tánh kia
Đây thời nói là Phật
Như Lai thấy biết khắp
Thấu rõ tất cả pháp
Phật pháp và bồ đề
Cả hai bất khả đắc
Đạo sư không lai khứ
Cũng lại không sở trụ
Xa lìa các điên đảo
Đây hiệu đẳng chánh giác.

Tinh Tú Tràng Bồ tát thừa thần lực của Đức Phật quan sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Như Lai không sở trụ
Mà trụ tất cả cõi
Tất cả cõi đều qua
Tất cả nơi đều thấy,
Phật tùy tâm chúng sanh
Hiện khắp tất cả thân
Thành đạo Chuyển pháp luân
Và cùng nhập Niết Bàn.
Chư Phật bất tư nghì
Ai tư nghì được Phật.
Ai thấy được Chánh Giác.
Ai hiện được tối thắng.
Tất cả pháp đều “Như”
Cảnh giới Phật cũng vậy.
Nhẫn đến không một pháp
Trong “Như” có sanh diệt.
Chúng sanh vọng phân biệt.
Là Phật là thế giới
Người liễu đạt pháp tánh
Không Phật không thế giới.
Như Lai khắp hiện tiền
Khiến chúng sanh tin mừng
Phật thể bất khả đắc.
Cũng lại không sở kiến.
Nếu được nơi thế gian
Trọn xa lìa chấp trước
Vô ngại lòng hoan hỷ
Nơi pháp được khai ngộ.
Thần lực tự tại hiện
Chính đây gọi là Phật
Trong tất cả thế giới
Tìm cầu trọn không có.
Nếu biết được như vậy
Tâm ý và các pháp
Thấy biết trọn tất cả
Chóng được thành Như Lai,
Trong ngôn ngữ hiển thị
Tất cả Phật tự tại
Chánh giác siêu ngôn ngữ
Giả mượn ngôn ngữ nói.

Pháp Tràng Bồ tát thừa thần lực của Đức Phật quán sát khắp mười phương rồi nói kệ rằng:

Thà nên luôn thọ đủ
Tất cả khổ thế gian
Trọn chẳng xa Như Lai
Chẳng rời đấng Tự Tại.
Nếu có những chúng sanh
Chưa phát tâm Bồ đề
Được nghe danh hiệu Phật
Quyết định thành Chánh Giác.
Nếu có bực trí huệ
Một niệm phát đạo tâm
Quyết thành đấng Vô thượng
Cẩn thận chớ sanh nghi.
Như Lai đấng Tự Tại
Vô lượng kiếp khó gặp
Nếu sanh một niệm tin
Mau chứng đạo Vô thượng.
Giả sử trong mỗi niệm
Cúng dường vô lượng Phật
Chưa biết pháp chơn thật
Chẳng gọi là cúng dường.
Nếu nghe pháp như vậy
Chư Phật từ đây sanh
Dầu bị vô lượng khổ
Chẳng bỏ hạnh Bồ đề,
Một lần nghe đại trí
Pháp sở nhập của Phật
Khắp ở trong Pháp giới
Thành tam thế Đạo sư,
Dầu tận vị lai tế
Đi khắp các cõi Phật
Chẳng cầu diệu pháp này
Trọn chẳng thành Bồ đề.
Chúng sanh vô thủy lại
Mãi lưu chuyển sanh tử
Chẳng rõ pháp chơn thật
Nên Chư Phật ra đời.
Các pháp chẳng thể hoại
Cũng không ai hoại được
Tự tại đại quang minh
Hiện khắp nơi thế gian.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Tiểu kinh Pháp hành - Cùladhammasamàdàna sutta (Phân loại bốn kiểu thọ trì pháp theo cảm thọ hiện tại (khổ/lạc) và quả báo tương lai (khổ/lạc), nhấn mạnh tiêu chuẩn lợi ích lâu dài)
  2. Kinh Khất thực thanh tịnh - Pindapàtapàrisuddhi sutta (Đặt "thanh tịnh khất thực" như pháp môn tự kiểm tâm trước–trong–sau khi khất thực (dục tham/sân/hại…); biến sinh hoạt thường nhật thành cơ chế tịnh hóa tâm cụ thể)
  3. Kinh Assalàyana - Assalàyana sutta (Tranh luận chống học thuyết đẳng cấp; bác bỏ "thanh tịnh bẩm sinh", khẳng định giá trị theo nghiệp hạnh/giới hạnh)
  4. Kinh Kìtàgiri - Kìtàgiri sutta (Bàn về sai lệch trong nếp sống và các hạng Thánh đệ tử; nhấn mạnh kỷ luật và tinh tấn để không suy thoái trong Tăng)
  5. Tiểu kinh Rừng sừng bò - Cùlagosinga sutta (Nêu hình mẫu đời sống rừng hòa hợp, ít lời và tinh tấn, lấy thiền định và phạm hạnh làm trọng)
  6. Kinh Ưu-đàm-bà-la sư tử hống - Udumbarikà-Sìhanàda sutta (Tà-giáo chẳng biết nghe lời giảng-dạy như sư-tử rống của đức Phật)
  7. Tương ưng Thiền - Jhāna-saṃyutta (Nhóm bài về thiền (jhāna): điều kiện thành tựu và lợi ích đối với tuệ quán)
  8. Tương ưng Vô thủy - Anamatagga-saṃyutta (Nhấn mạnh luân hồi vô thủy và tính cấp thiết của giải thoát)
  9. Kinh Tư lượng - Anumàna sutta (Dạy phương pháp tự kiểm bằng )
  10. Kinh Bẫy mồi - Nivàpa sutta (Dụ ngôn "mồi bẫy" để chỉ dục lạc và cạm bẫy của Ma, phân loại các phản ứng trước cám dỗ và nêu lối thoát bằng tỉnh giác, viễn ly)
  11. Kinh Angulimàla - Angulimàla sutta (Cảm hóa kẻ sát nhân Aṅgulimāla; nêu khả năng chuyển hóa và "quay đầu" nhờ từ bi và tu tập, dù vẫn chịu quả hiện đời)
  12. Tương ưng Chánh cần - Sammappadhāna-saṃyutta (Nhóm bài về bốn chánh cần: đoạn ác, ngăn ác, sinh thiện, tăng trưởng thiện)
  13. Kinh Tướng - Lakkhana sutta (32 tướng đại-trượng-phu do công-đức tu đời trước)
  14. Kinh Đại Bát-Niết-Bàn - Mahàparinibbàna sutta (Các ngày cuối-cùng của Phật Thích-ca)
  15. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na - Punnovàda sutta (Đức Phật thử sức Puṇṇa bằng các tình huống bị mắng–đánh–hại, rồi dạy thái độ nhẫn nhục và từ tâm khi hoằng hóa; đạo lực nằm ở vô sân và tuệ tri đúng pháp trước nghịch duyên)
  16. Lăng Nghiêm Kinh - 楞嚴經 (Kinh Lăng Nghiêm)
  17. Kinh A-sá-nang-chi - Atànàtiya sutta (Bản Hộ-Kinh giúp hộ-vệ các Tỳ-kheo)
  18. Kinh Căn tu tập - Indriyabhàvanà sutta (Bác quan niệm "tu căn" là triệt tiêu cảm giác; chỉ "vô thượng căn tu tập" là tiếp xúc sáu trần mà không bị tham–sân chi phối, chuyển hóa phản ứng bằng chánh niệm và tuệ tri)
  19. Kinh Đại duyên - Mahànidàna sutta (Pháp Duyên-Khởi)
  20. Kinh Đại Thiện Kiến vương - Mahàsudassana sutta (Tiền-thân đức Phật là vua Đại-Thiện-Kiến)
  21. Kinh Sela - Sela sutta (Bà-la-môn Sela gặp Phật, tán thán bằng kệ và xin xuất gia; về sau tinh cần tu tập và chứng đạt giải thoát)
  22. Đại kinh Màlunkyà - Mahà Màlunkyà sutta (Trình bày các pháp cần đoạn và lộ trình đoạn trừ kiết sử; nhấn mạnh tu tập có hệ thống thay cho tranh luận/suy đoán)
  23. Kinh Bạc-câu-la - Bakkula sutta (Bakkula thuật đời sống phạm hạnh thanh tịnh, tri túc và tinh cần bền bỉ; nêu gương "phạm hạnh giản dị" và sức mạnh của nội lực không phô trương)
  24. Kinh An trú tầm - Vtakkasanthàna sutta (Năm phương pháp nhiếp phục tầm bất thiện (đổi đề mục, quán nguy hiểm, không tác ý, điều phục thân tâm, dùng ý chí khi cần).)
  25. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (VII) - Jàtaka (Chuyện Tiền Thân Đức Phật 7, số chuyện từ 540 đến số 547)
  26. Tương ưng Bà-la-môn - Brāhmaṇa-saṃyutta (Đối thoại với bà-la-môn về nghi lễ, hạnh, nghiệp và tiêu chuẩn phạm hạnh)
  27. Kinh Giới phân biệt - Dhàtuvibhanga sutta (Giáo giới du sĩ Pukkusāti bằng phép quán giới/đại (đất–nước–lửa–gió và yếu tố tâm) để tháo gỡ ngã chấp; xem thân tâm như các yếu tố vận hành theo duyên để ly tham và an tịnh)
  28. Đại kinh Bốn mươi - Mahàcattàrìsaka sutta (Hệ thống hóa Bát chánh đạo trong mạng lưới trợ duyên ()
  29. Kinh Samanamandikà - Samanamandikàputta sutta (Định nghĩa Sa-môn chân thật theo đoạn trừ bất thiện và thanh tịnh thân–khẩu–ý; không đồng nhất Sa-môn với danh xưng/hình thức)
  30. Đại kinh Sakuludàyi - Mahàsakuludàyin sutta (Bàn về điều làm nên uy tín bậc đạo sư; thước đo đặt trên giới–định–tuệ và kết quả đoạn trừ phiền não)
  31. Kinh Sàleyyaka - Sàleyyaka sutta (Giảng cho cư sĩ về mười nghiệp đạo, đối chiếu nghiệp thân–khẩu–ý bất thiện và thiện cùng quả báo tương ứng)
  32. Kinh Giáo giới La-hầu-la ở rừng Ambala - Ambalatthikà Ràhulovàda sutta (Dạy về chân thật và tự phản tỉnh trước–trong–sau khi hành động (thân–khẩu–ý) như nền tảng thanh tịnh)
  33. Tương ưng Hơi thở vô, hơi thở ra - Ānāpāna-saṃyutta (Nhóm bài về niệm hơi thở (ānāpānasati) để phát triển định và tuệ)
  34. Đại kinh Sáu xứ - Mahàsalàyatanika sutta (Khai triển rộng về sáu xứ: không như thật tri thì tham ái tăng trưởng; như thật tri thì ái diệt và đạo lộ mở ra—đặt tri kiến đúng về lục xứ làm nền đoạn tận khổ)
  35. Chuyện Tiền Thân Đức Phật (I) - Jātaka (Tập hợp truyện tiền thân (jātaka) gắn với tiền kiếp của Đức Phật/Bồ-tát; thường là truyện kể kèm kệ, với mô-típ nhân vật, tình huống và lời kết luận đạo đức trong cấu trúc truyện. Nội dung chủ yếu là các tình huống lựa chọn và hành vi, qua đó trình bày các phẩm chất/đức hạnh được nêu trong truyền thống truyện tiền thân)
  36. Kinh Tư sát - Vìmamsaka sutta (Nêu phương pháp thẩm định bậc Đạo sư bằng quan sát lâu dài hành vi, lời nói và động cơ, nhấn mạnh tiêu chuẩn đoạn trừ tham–sân–si)
  37. Kinh Gulisàni - Gulisàni sutta (Chuẩn mực cho vị sống viễn ly khi hòa hợp đại chúng: khiêm cung, tri túc, phòng hộ căn, chánh niệm và tu tập đưa đến định–tuệ)
  38. Kinh Veranjaka - Veranjaka sutta (Trình bày thiện ác và quả báo theo phân loại hành vi thân–khẩu–ý, nhấn mạnh trách nhiệm đạo đức và hệ quả dài hạn)
  39. Tiểu kinh Xóm ngựa - Cùla-Assapura sutta (Dạy ngắn gọn về hổ thẹn và tự chế; nhấn mạnh phạm hạnh chân thật thể hiện ở chánh hạnh và đoạn trừ bất thiện pháp)
  40. Kinh Xa-ni-sa - Janavasabha sutta (Nhờ tu theo Pháp Phật được tái-sanh cõi Trời)
  41. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 19: Thăng Dạ Ma Thiên Cung (Phật lên cõi trời Dạ Ma)
  42. Chương bốn pháp - Catukkanipāta (Trình bày các nhóm bốn pháp, phù hợp nhiều khuôn giáo lý "tứ phần". Vấn đề quan trọng: làm quen lối tư duy "liệt kê có hệ thống", liên kết pháp học với khung thực hành rõ ràng)
  43. Chương chín pháp - Navakanipāta (Theo chín pháp, thường là các nhóm điều kiện/nhân duyên và cách "xếp lớp" yếu tố theo mức độ. Vấn đề quan trọng: tu học là tiến trình tích lũy điều kiện, không phải "một bước nhảy" bằng niềm tin)
  44. Tương Ưng Kosala - Kosala-saṃyutta (Các bài liên hệ vua Kosala, bàn về trị sự, đời sống và pháp hành)
  45. Tương ưng Phạm thiên - Brahmā-saṃyutta (Các bài liên hệ Phạm thiên (Brahmā), nêu bối cảnh và đối thoại giáo lý)
  46. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 22: Vô Tận Tạng (Mười kho tàng công đức vô tận)
  47. Kinh Trạm xe - Rathavinìta sutta (Dụ "trạm xe/xe chuyển trạm" để minh họa các tầng thanh tịnh như những chặng chuyển tiếp hướng về cứu cánh Niết-bàn)
  48. Tương ưng Kiến - Diṭṭhi-saṃyutta (Bàn về tà kiến/chấp kiến và phương cách tháo gỡ nhận thức sai lầm)
  49. Tiểu kinh Sakuludayi (Thiện sanh Ưu đà di) - Cùlasakuludàyi sutta (Phê bình khuynh hướng đồng nhất khổ hạnh với thánh thiện; nhấn mạnh chánh đạo đưa đến định tĩnh và đoạn trừ lậu hoặc)
  50. Đại kinh Xóm ngựa - Mahà-Assapura sutta (Trình bày tuần tự các chuẩn mực của đời sống xuất gia và )

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm Tác Phẩm Hán Nôm:

Lưu biệt Nguyễn đại lang - (留別阮大郎) | Nguyễn Du

Quảng Cáo

app đánh vần