Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Pāli » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Minh Châu

Kinh Văn

KINH LÀNG SAMA

Sàmagàma sutta

(Lấy cảnh giáo đoàn ngoại đạo chia rẽ làm bài học; Đức Phật dạy cơ chế duy trì thống nhất bằng kỷ cương, pháp học hệ thống và hòa giải đúng pháp)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Minh Châu

Thuộc bộ: , Trung Bộ Kinh, Nikaya, (104)

Ngôn ngữ: Pāli

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Nội Dung:
Kinh Làng Sama


Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn trú ở giữa các vị Sakka (Thích Ca), tại Samagama (Xá-di thôn).

Lúc bấy giờ, Nigantha Nataputta vừa mới tạ thế ở Pava. Sau khi vị này tạ thế, các vị Nigantha chia ra làm hai phái, chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại nhau với binh khí miệng lưỡi. "Ông không biết Pháp và Luật này, ta biết Pháp và Luật này. Sao Ông có thể biết Pháp và Luật này? Ông theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời nói ta tương ưng, lời nói Ông không tương ưng. Ðiều đáng nói trước, Ông nói sau; điều đáng nói sau, Ông nói trước. Ðiều Ông quan niệm, trình bày đã bị đảo lộn. Quan điểm của Ông đã bị thách đố. Ông đã bị đánh bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ông. Hãy tự thoát khỏi bế tắc nếu Ông có thể làm được!" Hình như các đệ tử của Nigantha Nataputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigantha Nataputta cũng chán ngấy, cơ hiềm, và phản đối các Nigantha, vì pháp luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết, tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.

Rồi Sa-di Cunda, sau khi an cư mùa mưa ở Pava, đến thăm Tôn giả Ananda ở Samagama, sau khi đến, đảnh lễ Tôn giả Ananda và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Sa-di Cunda bạch Tôn giả Ananda:

-- Bạch Tôn giả, Nigantha Nataputtta đã từ trần ở Pava. Sau khi vị này tạ thế, các Nigantha chia ra làm hai phái... tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Ananda nói với Sa di Cunda:

-- Này Hiền giả Cunda, đây là vấn đề đáng đưa ra để yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Cunda, chúng ta hãy đi yết kiến Thế Tôn; sau khi đến, chúng ta hãy trình bày vấn đề này để Thế Tôn biết.

-- Thưa vâng, Tôn giả .

Sa di Cunda vâng lời Tôn giả Ananda. Rồi Tôn giả Ananda cùng với Sa di Cunda đi đến yết kiến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, Sa di Cunda có nói: "Nigantha Nataputta đã từ trần ở Pava. Sau khi vị này từ trần, các vị Nigantha chia ra làm hai phái... tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ". Bạch Thế Tôn, con nghĩ như sau: "Sau khi Thế Tôn nhập diệt, chớ để cho tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng. Tranh luận ấy đưa đến sự bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài người".

-- Này Ananda, Ông nghĩ thế nào? Những pháp Ta dạy cho các Ông với thượng trí, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành. Ông có thấy chăng, này Ananda, có hai Tỷ-kheo đối với những pháp này tuyên bố sai khác nhau?

-- Bạch Thế Tôn, những pháp Thế Tôn dạy cho con với thượng trí, như Bốn niệm xứ, Bốn chánh cần, Bốn như ý túc, Năm căn, Năm lực, Bảy Bồ đề phần, Thánh đạo tám ngành, con không thấy cho đến hai Tỷ-kheo đối với những pháp này tuyên bố sai khác nhau. Bạch Thế Tôn, và những người nào sống y cứ sùng kính Thế Tôn, những người ấy sau khi Thế Tôn nhập diệt, có thể khởi lên những tranh luận giữa tăng chúng, hoặc về Tăng thượng hoạt mạng, hoặc về Tăng thượng Giới bổn (Patimokkha). Tranh luận ấy đem đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.

-- Là nhỏ nhặt, này Ananda, là sự tranh luận ấy, tức là tranh luận về Tăng thượng hoạt mạng hay Tăng thượng giới bổn. Này Ananda, sự tranh luận khởi lên giữa Tăng chúng về con đường (magga) hay về đường hướng tu hành (patipada), sự tranh luận ấy mới đưa đến bất an cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người.

Này Ananda, có sáu căn bản tranh chấp này. Thế nào là sáu? Ở đây, Tỷ-kheo phẫn nộ, sân hận. Này Ananda, vị Tỷ-kheo nào phẩn nộ, sân hận, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng, và sống không viên mãn sự học tập. Này Ananda, Tỷ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập, vị ấy khởi lên tranh luận giữa Tăng chúng. Sự tranh luận nào đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người. Này Ananda, nếu Ông thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác, ở đây, này Ananda, Ông phải tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận ấy. Này Ananda, nếu Ông không thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác; ở đây, này Ananda, Ông phải theo một đường hướng để không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn diệt ác căn bản tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy như vậy.

Lại nữa này Ananda, vị Tỷ-kheo hiềm hận não hại... tật đố, xan tham... gian manh, xảo trá... ác dục tà kiến... chấp thủ thế trí, cố chấp, khó thuyết phục. Này Ananda, Tỷ-kheo nào chấp thủ thế trí, cố chấp khó thuyết phục, vị ấy sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập. Này Ananda, vị Tỷ-kheo nào sống không cung kính, không tôn trọng bậc Ðạo sư; sống không cung kính, không tôn trọng Pháp; sống không cung kính, không tôn trọng Tăng chúng; và sống không viên mãn sự học tập, vị ấy khởi lên sự tranh luận giữa Tăng chúng. Sự tranh luận nào đưa đến bất an cho đa số, bất hạnh cho đa số, thất lợi cho đa số, bất an, đau khổ cho loài Trời, loài Người, này Ananda, nếu Ông thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa các người khác, ở đây, này Ananda, Ông phải tinh tấn đoạn trừ ác căn bản tranh luận ấy. Này Ananda, nếu Ông không thấy căn bản tranh luận như vậy, giữa các Ông hay giữa người khác, ở đây, này Ananda, Ông phải theo một đường hướng để không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận ấy. Có sự đoạn diệt ác căn bản tranh luận ấy, như vậy mới không có sự tiếp tục diễn tiến đến tương lai về ác căn bản tranh luận như vậy. Những pháp này, này Ananda, là sáu căn bản tranh chấp.

Này Ananda, có bốn tránh sự này. Thế nào là bốn? Tránh sự khởi lên do tranh luận, tránh sự khởi lên do chỉ trích, tránh sự khởi lên do phạm giới tội, tránh sự khởi lên do trách nhiệm (kiccadhikaranam: hành tránh sự). Những pháp này, này Ananda, là bốn tránh sự.

Nhưng này Ananda, có bảy diệt tránh pháp này để giải quyết diệt trừ các tránh pháp thỉnh thoảng khởi lên: phán quyết với sự hiện diện cần được ban cho (sammukhavinayo databbo: ưng dữ hiện tiền tỳ- ni), phán quyết ức niệm cần được ban cho (sativinayadatabbo: ưng dữ ức niệm tỳ-ni), phán quyết bất si cần được ban cho (amulhavinayo databbo: ưng dữ bất si tỳ-ni), quyết định tùy theo thú nhận (patinnaya karetabbam), quyết định đa số (yebhuya ssika: đa nhân mích tội), quyết định tùy theo giới tội người phạm (tassa papiyyasika), trải cỏ che lấp (tinavattha rako: như thảo phú địa).

Này Ananda, thế nào là phán quyết với sự hiện diện cần được ban cho? Ở đây, này Ananda, các Tỷ-kheo tranh chấp nhau: "Ðây là pháp, hay đây là phi pháp, hay đây là luật, hay đây là phi luật". Này Ananda, tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp hòa hợp với nhau, sau khi tập hợp, pháp quy chế (dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích. Sau khi pháp quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây, làm thế nào để đồng nhất đạt được, như vậy, tránh sự phải được giải quyết. Như vậy, này Ananda, là phán quyết với sự hiện diện; và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là dùng phán quyết với sự hiện diện.

Và này Ananda, thế nào là quyết định đa số (yebbuyyasika)? Này Ananda, nếu các Tỷ-kheo kia không có thể giải quyết tránh ấy tại trú xứ ấy, thời này Ananda, các vị Tỷ-kheo kia cần phải đi đến chỗ trú xứ có nhiều Tỷ-kheo hơn, tại đấy tất cả các Tỷ-kheo phải hòa đồng tập hợp lại; sau khi tập hợp, pháp quy chế (dhammanetti) phải được thảo luận, phân tích. Sau khi pháp quy chế được thảo luận, phân tích, ở đây làm thế nào, để đồng nhất đạt được như vậy, tránh sự phải được giải quyết. Như vậy, này Ananda, là sự giải quyết một số tránh sự tức là dùng sự quyết định đa số.

Và này Ananda, thế nào phán quyết ức niệm? Ở đây, này Ananda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nói rằng: "Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?" Vị ấy trả lời như sau: "Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di". Như vậy, này Ananda, một phán quyết ức niệm cần phải cho Tỷ-kheo ấy. Như vậy, này Ananda, là phán quyết ức niệm. Như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là nhờ phán quyết ức niệm.

Và này Ananda, thế nào là phán quyết bất si? Ở đây, này Ananda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di nói rằng: "Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?" Vị ấy trả lời như sau: "Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di". Tỷ-kheo ấy bị các vị Tỷ-kheo kia dồn ép phải thú nhận: "Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di". Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: "Này Chư Hiền, tôi đã bị cuồng si, tâm trí tôi điên đảo; do tôi cuồng si như vậy, nhiều việc đã được tôi làm, tôi nói không xứng Sa-môn hạnh. Vì bị cuồng si, tôi không nhớ đã làm như vậy". Này Ananda, phán quyết bất si cần phải cho Tỷ-kheo ấy. Như vậy, này Ananda, là phán quyết bất si. Và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh pháp, tức là nhờ phán quyết bất si.

Và này Ananda, thế nào là quyết định tùy theo thú nhận? Ở đây, này Ananda, bị buộc tội hay không bị buộc tội, Tỷ-kheo nhớ một giới tội, tỏ lộ, trình bày. Tỷ-kheo ấy phải đến một Tỷ-kheo lớn tuổi hơn, đắp y phía một bên vai, đảnh lễ chân vị ấy, ngồi gối hai chân, chấp tay và nói như sau: "Bạch Tôn giả, tôi có phạm giới tội tên như thế này, nay xin sám hối". Tỷ-kheo kia nói như sau: "Ông có thấy chăng?"- "Tôi có thấy" -- "Ông có gìn giữ trong tương lai không?" -- "Tôi sẽ gìn giữ". Như vậy, này Ananda, là quyết định tùy theo thú nhận, như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh sự tức là nhờ quyết định tùy theo thú nhận.

Và này Ananda, thế nào là quyết định tùy theo giới tội người phạm? Ở đây, này Ananda, các Tỷ-kheo buộc tội một Tỷ-kheo về một trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nói rằng: "Tôn giả có nhớ Tôn giả đã phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?" Vị ấy trả lời như sau: "Chư Hiền, tôi không nhớ tôi đã phạm trọng tội như vậy, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di". Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo kia dồn ép phải tỏ lộ ra: "Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả có nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di?" Tỷ-kheo ấy trả lời như sau: "Chư Hiền, tôi không có nhớ tôi có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Chư Hiền, tôi nhớ tôi có phạm khinh tội như thế này". Tỷ-kheo ấy bị các Tỷ-kheo kia dồn ép phải tỏ lộ: "Tôn giả hãy biết cho rõ ràng, nếu Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di hoặc gần Ba-la-di?". Vị ấy trả lời như sau: "Chư Hiền, dầu không ai hỏi tội, tôi sẽ thú nhận có phạm khinh tội như thế này, làm sao tôi có thể, khi có người hỏi tôi, lại không thú nhận có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba la di, hoặc gần Ba-la-di?" Vị kia nói như sau: "Này Hiền giả, dầu Ông có phạm khinh tội này, nếu không hỏi, Ông sẽ không thú nhận, làm sao khi đã phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di, nếu có hỏi, Ông lại có thể thú nhận? Tôn giả hãy biết rõ ràng, nếu Tôn giả nhớ có phạm trọng tội như thế này không, hoặc Ba-la-di. hoặc gần Ba-la-di?" Vị ấy trả lời như sau: "Chư Hiền, tôi nhớ, tôi có phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di. Ðiều tôi đã nói như vậy, là nói chơi, điều tôi đã nói như vậy là để cười (rava) Tôi không có nhớ tôi đã phạm trọng tội như thế này, hoặc Ba-la-di, hoặc gần Ba-la-di". Như vậy, này Ananda, là quyết định tùy theo giới tội người phạm. Và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh tội, tức là nhờ quyết định tùy theo giới tội người phạm.

Và này Ananda, thế nào là trải cỏ che lấp? Ở đây, này Ananda, một số Tỷ-kheo sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, có nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Tất cả các Tỷ-kheo ấy phải tập hợp hòa đồng với nhau. Sau khi tập hợp, một Tỷ-kheo thông minh có kinh nghiệm hơn của một phe nhóm Tỷ-kheo, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về phía một bên vai, chắp tay, bạch Tăng chúng, nói rằng: "Chư Tôn giả, Tăng chúng hãy nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời, tôi xin tỏ lộ bất cứ giới tội nào của các Tôn giả này và bất cứ giới tội nào của tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng vì lợi ích cho tự thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như lấy cỏ trải ra, trừ các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư sĩ".

Rồi một vị Tỷ-kheo thông minh, kinh nghiệm của nhóm Tỷ-kheo khác, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y về phía một bên vai, chấp tay bạch Tăng chúng, nói rằng: "Chư Tôn giả, Tăng chúng hãy nghe tôi. Khi chúng tôi sống tranh chấp, tranh cãi, tranh luận với nhau, nhiều việc đã làm, đã nói không xứng Sa-môn hạnh. Nếu Tăng chúng xem là phải thời, tôi xin tỏ lộ bất cứ giới tội nào của các Tôn giả này và bất cứ giới tội nào của tôi. Vì lợi ích cho chư Tôn giả và cũng vì lợi ích cho tự thân, tôi xin tỏ lộ giữa Tăng chúng, như lấy cỏ trải ra, trừ các trọng tội, trừ tội liên hệ đến cư sĩ". Như vậy, này Ananda, là trải cỏ che lấp, và như vậy, ở đây là sự giải quyết một số tránh pháp, tức là nhờ trải cỏ che lấp.

Này Ananda, có sáu khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất. Thế nào là sáu?

Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo an trú từ thân nghiệp, đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo an trú từ khẩu nghiệp, đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này, tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, Tỷ-kheo an trú từ ý nghiệp đối với các vị đồng Phạm hạnh, chỗ đông người và chỗ vắng người. Khả niệm pháp này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, với mọi sở đắc như pháp, mọi lợi dưỡng đúng pháp cho đến những thọ lãnh trong bình bát, Tỷ-kheo là vị san sẻ các lợi dưỡng như vậy, là vị thọ hưởng chúng cùng với các vị đồng Phạm hạnh có giới đức. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, đối với mọi giới luật nào, không sứt mẻ, không tỳ, không vết, không ô uế, giải thoát, được người trí tán thán, không chấp thủ, đưa đến Thiền định, Tỷ-kheo sống thành tựu những giới luật như vậy cùng với các vị đồng Phạm hạnh giữa chỗ đông người và tại chỗ vắng người. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa hợp, đồng nhất.

Và lại nữa, này Ananda, đối với mọi tri kiến thánh thiện, đưa đến xuất ly, dẫn đến sự chơn chánh, đoạn diệt khổ đau cho những ai thực hành theo, Tỷ-kheo sống thành tựu những tri kiến như vậy cùng với các vị đồng Phạm hạnh trước chỗ đông người và tại chỗ vắng người. Khả niệm pháp này cũng tác thành khả ái, tác thành tôn kính đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa đồng, đồng nhất.

Này Ananda, sáu pháp khả niệm này tác thành khả ái, tác thành tôn kính, đưa đến đoàn tụ, không tranh luận, hòa đồng, đồng nhất. Này Ananda, nếu Ông thọ trì và thực hành sáu pháp khả niệm này, thời này Ananda, Ông thấy có những cách nói nào, hoặc tế hoặc thô, khiến Ông không có thể kham nhẫn?

-- Thưa không, bạch Thế Tôn.

-- Do vậy, này Ananda, hãy thọ trì và thực hành sáu pháp khả niệm này, như vậy sẽ đưa đến cho Ông an lạc và hạnh phúc lâu dài.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Kinh Sandaka - Sandaka sutta (Nêu các lập trường khiến phạm hạnh "vô nghĩa" (phủ nhận nghiệp/đời sau, hoài nghi cực đoan…); làm rõ lý do giáo pháp đáng tin để thực hành)
  2. Chương năm pháp - Pañcakanipāta (Theo năm pháp, xoay quanh các nhóm quan trọng cho tu tập và đời sống. Vấn đề quan trọng: tính "thực dụng" của pháp số—nhiều nhóm năm như checklist tự kiểm, phòng hộ, điều chỉnh hành vi)
  3. Tương Ưng Bộ Kinh - Samyutta Nikàya (Là bộ kinh thứ ba trong kinh tạng Pàli (Trường bộ, Trung bộ, Tương Ưng bộ, Tăng Chi bộ, và Tiểu bộ), có tất cả là 56 Tương Ưng được bố trí vào 5 tập)
  4. Đại kinh Đoạn tận ái - Mahàtanhàsankhaya sutta (Khiển trách tà kiến về "thức" như thực thể thường hằng đi tái sinh và giải thích duyên khởi liên hệ thức–danh sắc và cấu trúc hình thành khổ)
  5. Kinh Subha (Tu-bà) - Subha sutta (Ba Thánh-uẩn: Giới, Định, Huệ)
  6. Tương ưng Lợi ích đắc cung kính - Lābhasakkāra-saṃyutta (Cảnh tỉnh lợi dưỡng–cung kính và nguy cơ lệch hướng tu tập khi chấp trước)
  7. Kinh Ambattha (A-ma-trú) - Ambattha sutta (Chớ hãnh-diện về dòng-họ và giai-cấp)
  8. Đại kinh Thí dụ Lõi cây - Mahasaropama-sutta (Ví cây có vỏ, giác và lõi để chỉ nguy cơ nhầm thành tựu trung gian (lợi dưỡng, danh tiếng, tri thức, định lực) với mục tiêu giải thoát)
  9. Kinh An trú tầm - Vtakkasanthàna sutta (Năm phương pháp nhiếp phục tầm bất thiện (đổi đề mục, quán nguy hiểm, không tác ý, điều phục thân tâm, dùng ý chí khi cần).)
  10. Kinh Nghĩ như thế nào - Kinti sutta (Nêu nguyên nhân tranh chấp và cách sống hòa hợp trong Tăng: cùng tán thán–cùng hành trì–cùng tuệ tri, xử lý bất đồng trên nền Pháp–Luật)
  11. Kinh Makhàdeva - Makhàdeva sutta (Chuyện vua thấy tóc bạc liền xuất ly; khích lệ tinh tấn và không phóng dật trước già–bệnh–chết)
  12. Tương ưng Sanh - Uppāda-saṃyutta (Về sự sinh khởi (uppāda) của các pháp và hệ quả đối với tuệ quán)
  13. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 35: Như Lai Tùy Hảo Quang Minh Công Đức (Công đức của các tướng tốt nơi Phật)
  14. Tiểu kinh Mãn nguyệt - Cùlapunnama sutta (Nêu khác biệt phàm phu và Thánh đệ tử trước ngũ uẩn: phàm phu sở hữu hóa; Thánh đệ tử tuệ tri như thật nên không thủ trước, hướng đến đoạn khổ)
  15. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 25: Thập Hồi Hướng (Mười cách đem công đức hồi hướng về đạo quả)
  16. Kinh Bất đoạn - Anupada sutta (Tán dương Xá-lợi-phất tuệ tri "không gián đoạn" trong từng tầng thiền/chứng đắc; minh họa mô hình kết hợp định sâu và tuệ quán vi tế)
  17. Kinh Ưu-ba-ly - Upàli sutta (Đối thoại chuyển trọng tâm từ tranh luận sang tiêu chuẩn thiện–bất thiện theo nghiệp thân–khẩu–ý; dẫn đến khởi tín và quy y)
  18. Chương bảy pháp - Sattakanipāta (Theo bảy pháp, thường liên hệ tiến trình giác ngộ và phẩm chất Thánh đạo. Vấn đề quan trọng: nhấn mạnh các cấu phần giúp tu tập đi vào chiều sâu (đạo đức–kỷ luật–định–tuệ) như một hệ đồng bộ)
  19. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 15: Thập Trụ (Mười giai đoạn an trụ của tâm Bồ tát)
  20. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 22: Vô Tận Tạng (Mười kho tàng công đức vô tận)
  21. Tương ưng Sáu xứ - Saḷāyatana-saṃyutta (Hệ thống lục xứ (mắt–tai–mũi–lưỡi–thân–ý) và các pháp liên hệ (xúc, thọ, ái…))
  22. Trưởng lão ni kệ - Therīgāthā (Tuyển tập kệ gán cho các trưởng lão ni; nhiều bài là lời tự thuật về hoàn cảnh đời sống, chuyển biến tâm lý và kinh nghiệm tôn giáo của nhân vật. Nội dung cung cấp tư liệu về tiếng nói nữ giới trong văn học Phật giáo sơ kỳ và các mô-típ thường gặp trong kệ tụng (khổ cảnh–chuyển hóa–tuyên ngôn))
  23. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 39: Nhập Pháp Giới (Thiện Tài Đồng Tử tham học 53 vị thiện tri thức, thể nhập chân lý pháp giới)
  24. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 38: Ly Thế Gian (Bồ tát vượt thoát sự ràng buộc của thế gian)
  25. Kinh Ca-diếp Sư tử hống - Kassapa-Sìhanàda sutta (Thiếu-sót của việc tu Phạm-chí khổ-hạnh quá ép-xác)
  26. Kinh Nhập tức, Xuất tức niệm (Kinh Quán niệm hơi thở) - Anàpànasati sutta (Dạy 16 bước niệm hơi thở (thân–thọ–tâm–pháp) và nối trực tiếp với Tứ niệm xứ, Thất giác chi, minh và giải thoát; văn bản nền tảng thiền hơi thở)
  27. Tương ưng Phiền não - Kilesa-saṃyutta (Nhận diện và đối trị phiền não (kilesa), nhấn yếu tố đoạn trừ và chuyển hóa)
  28. Tương ưng Hơi thở vô, hơi thở ra - Ānāpāna-saṃyutta (Nhóm bài về niệm hơi thở (ānāpānasati) để phát triển định và tuệ)
  29. Đại kinh Khổ uẩn - Mahàdukkhakkhanda sutta (Dục theo ba mặt: vị ngọt, nguy hiểm, xuất ly)
  30. Kinh Màgandiya - Màgandiya sutta (Phê phán dục lạc và "tái định nghĩa khoái lạc"; nêu lộ trình xuất ly, thiền định và tuệ tri để vượt các lạc thọ hữu vi)
  31. Kinh Sáu Thanh tịnh - Chabbisodhana sutta (Đặt tiêu chuẩn cho việc tuyên bố chứng đắc (sáu mặt) để tránh nói quá/tự cao; nhấn mạnh chân thật, đúng thời và bảo hộ sự thanh tịnh cộng đồng)
  32. Tiểu kinh Sư tử hống - Cùlasìhanàda sutta ((nghĩa bóng) tiếng hống của vua núi rừng)
  33. Tiểu kinh Rừng sừng bò - Cùlagosinga sutta (Nêu hình mẫu đời sống rừng hòa hợp, ít lời và tinh tấn, lấy thiền định và phạm hạnh làm trọng)
  34. Tương Ưng Kosala - Kosala-saṃyutta (Các bài liên hệ vua Kosala, bàn về trị sự, đời sống và pháp hành)
  35. Kinh Tổng thuyết và Biệt thuyết - Uddesavibhanga sutta (Minh họa mô thức truyền thừa "tóm tắt → khai triển": một tổng thuyết ngắn được biệt thuyết chi tiết để làm rõ ý nghĩa thực hành; khuyến nối nguyên tắc khái quát với thao tác quán sát cụ thể)
  36. Tương Ưng Thiên Tử - Devaputta-saṃyutta (Đối thoại/kệ với các "thiên tử" (devaputta), thường nêu vấn đề đạo đức và tu tập)
  37. Kinh Gulisàni - Gulisàni sutta (Chuẩn mực cho vị sống viễn ly khi hòa hợp đại chúng: khiêm cung, tri túc, phòng hộ căn, chánh niệm và tu tập đưa đến định–tuệ)
  38. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 40: Phổ Hiền Hạnh Nguyện
  39. Kinh Năm và Ba - Pancattaya sutta (Phân tích các kiến chấp siêu hình quanh "tự ngã", chỉ cơ chế kiến thủ đưa đến tranh luận và khổ não; khuyến ly chấp bằng tuệ tri như thật)
  40. Kinh Nhất dạ hiền giả - Bhaddekaratta sutta (Dạy bài kệ "nhất dạ hiền giả": không truy tìm quá khứ, không mơ tưởng tương lai; quán sát như thật pháp hiện tại với chánh niệm và tinh tấn)
  41. Kinh Vekhanassa - Vekhanassa sutta (Bàn về "cái đẹp/cái thiện tối thượng"; chuyển tiêu chuẩn từ cảm thọ/đánh giá bên ngoài sang an lạc do thanh tịnh và ly tham)
  42. Hoa Nghiêm Kinh - 華嚴經 (Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh – 大方廣佛華嚴經)
  43. Kinh Không uế nhiễm - Anangana sutta (Phân loại các hạng người có/không có )
  44. Kinh Ái sanh - Piyajàtika sutta (Dạy rằng sầu bi phát sinh từ thương mến/ái trước; minh họa bằng các câu chuyện liên hệ vua Pasenadi và hoàng hậu Mallikā)
  45. Kinh Vương tử Bồ-đề - Bodhirajàkumàra sutta (Làm rõ điều kiện tu chứng và vai trò tinh tấn đúng pháp; nhấn mạnh Trung đạo, không rơi hai cực đoan buông lung/hành xác)
  46. Kinh Ước nguyện - Akankheyya sutta (Ước nguyện đúng pháp)
  47. Tiểu kinh Đoạn tận ái - Cùlatanhàsankhaya sutta (Dạy cách đoạn ái có hệ thống bằng việc quán sát các duyên sinh của ái và chấp thủ, nhận diện tiến trình khởi ái để tháo gỡ)
  48. Kinh Thập thượng - Dasuttara sutta (100 pháp xếp ra 10 loại với tiêu-chuẩn Thập Thượng)
  49. Kinh Veranjaka - Veranjaka sutta (Trình bày thiện ác và quả báo theo phân loại hành vi thân–khẩu–ý, nhấn mạnh trách nhiệm đạo đức và hệ quả dài hạn)
  50. Kinh Chuyển luân Thánh vương Sư tử hống - Cakkavati-Sìhanàda sutta (Vua Chuyển-Luân là bực tu-hành Thánh-vương, vì trị nước theo Chánh-Pháp)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm:

tuyến [ xiàn ]

7DAB, tổng 14 nét, bộ mịch 糸 (+8 nét)

Nghĩa: đường, tia

Xem thêm:

根毛
căn mao

Quảng Cáo

truyện tranh trạng quỷnh