Từ Điển Hán Việt

🏠 » Tác Phẩm » Kinh Văn » Ấn Độ » Hán » Thích Ca Mâu Ni Phật » Thích Trí Tịnh

Kinh Văn

KINH HOA NGHIÊM PHẨM 20: DẠ MA CUNG KỆ TÁN

(Bồ tát ca ngợi Phật tại cõi Dạ Ma)

Tác giả: Thích Ca Mâu Ni Phật

Dịch giả: Thích Trí Tịnh

Thuộc bộ: , Hoa Nghiêm Kinh, (22)

Ngôn ngữ: Hán

Ấn Độ

Thời kỳ: Trước Công Nguyên

Dịch nghĩa:
Bồ tát ca ngợi Phật tại cõi Dạ Ma


Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh – Tập 10 – Số 279 (Hoa Nghiêm Bộ)
Buddhavatamsaka Mahavaipulya Sutra
大方廣佛華嚴經 – Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh
Ngài Bồ tát Long Thụ (thế kỷ II) thỉnh từ cung rồng Ta Kiệt La
Nước Trung Hoa – triều Đại Đường (618~907) – đời Võ Chu (690~705)
Đại sư Thật Xoa Nan Đà (652~710) Hán dịch từ Phạn văn năm 695
Hòa thượng Thích Trí Tịnh (1917~2014) Việt dịch từ Hán văn
Phật Học Viện Quốc Tế xuất bản năm 1983
daithua.com biên tập năm 2020

DẠ MA CUNG KỆ TÁN


Lúc đó do thần lực của Đức Phật, mười phương đều có một Đại Bồ tát, mỗi vị đều cùng phật sát vi trần số Bồ tát câu hội, từ những thế giới ngoài mười vạn phật sát vi trần số quốc độ mà đến.

Tên của mười vị Bồ tát đó là: Công Đức Lâm Bồ tát, Huệ Lâm Bồ tát, Thắng Lâm Bồ tát, Vô Úy Lâm Bồ tát, Tàm Quý Lâm Bồ tát, Tinh Tấn Lâm Bồ tát, Lực Lâm Bồ tát, Hạnh Lâm Bồ tát, Giác Lâm Bồ tát, Trí Lâm Bồ tát.

Quốc độ của các Ngài từ đó mà đến theo thứ tự là: Thân Huệ thế giới, Tràng Huệ thế giới, Bửu Huệ thế giới, Thắng Huệ thế giới, Đăng Huệ thế giới, Kim Cang Huệ thế giới, An Lạc Huệ thế giới, Nhựt Huệ thế giới, Tịnh Huệ thế giới, Phạm Huệ thế giới.

Chư Phật Thế Tôn nơi thế giới đó theo thứ tự là: Thường Trụ Nhãn Phật, Vô Thắng Nhãn Phật, Võ Trụ Nhãn Phật, Bất Động Nhãn Phật, Thiên Nhãn Phật, Giải Thoát Nhãn Phật, Thẩm Đế Nhãn Phật, Minh Tướng Nhãn Phật, Tối Thượng Nhãn Phật, Cám Thanh Nhãn Phật.

Chư Bồ tát này đến dưới bửu tòa đảnh lễ Phật, rồi theo phương của mình đến đều riêng hóa hiện tòa sư tử liên hoa tạng mà ngồi kiết già trên đó.

Tất cả Dạ Ma thiên ở thập phương thế giới đều như thế cả. Bồ tát, quốc độ và Như Lai cũng đồng danh, đồng hiệu như trên.

Lúc đó đức Thế Tôn, từ trên hai bàn chân, phóng ra trăm ngàn ức quang minh màu đẹp chiếu khắp thập phương thế giới. Tất cả đạo tràng, Phật và Bồ tát đều hiển hiện cả.

Bấy giờ, Công Đức Lâm Bồ tát thừa oai lực của Đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Phật phóng đại quang minh
Chiếu khắp nơi mười phương
Đều thấy Thiên Nhơn Tôn
Thông đạt không chướng ngại.
Phật ngồi cung Dạ Ma
Khắp cùng mười phương cõi
Việc này rất lạ lùng
Thế gian rất hi hữu.
Trời Dạ Ma Thiên Vương
Ca ngợi mười Như Lai
Như hội này đã thấy
Tất cả hội cũng vậy.
Những chúng Bồ tát kia
Đồng hiệu với chúng tôi
thập phương tất cả chỗ
Diễn thuyết pháp vô thượng.
Bổn quốc của các ngài
Danh hiệu cũng không khác
Đều riêng nơi bổn Phật
Tịnh tu các phạm hạnh.
Các đức Như Lai kia
Danh hiệu cũng đều đồng
Quốc độ đều giàu vui
Thần lực đều tự tại.
Tất cả chúng mười phương
Đều thấy Phật ở đây
Hoặc thấy ở nhơn gian
Hoặc thấy ở Thiên cung.
Như Lai an trụ khắp
Tất cả các quốc độ
Nay chúng tôi thấy Phật
Ở tại Thiên cung này.
Xưa phát nguyện bồ đề
Khắp đến mười phương cõi
Nên oai lực của Phật
Cùng khắp khó nghĩ bàn.
Lìa sự tham thế gian
Đầy đủ vô biên đức
Nên được sức thần thông
Chúng sanh đều thấy cả.
Du hành mười phương cõi
Như hư không vô ngại
Một thân vô lượng thân
Thân tướng bất khả đắc.
Phật công đức vô biên
Thế nào lường biết được
Không dừng cũng không đi
Vào khắp trong Pháp giới.

Huệ Lâm Bồ tát thừa oai lực của Đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Đấng đạo sư thế gian
Đấng ly cấu vô thượng
bất khả tư nghị kiếp
Khó được gặp gỡ Phật.
Phật phóng đại quang minh
Thế gian đều khắp thấy
Vì chúng rộng diễn bày
Lợi ích những quần sanh.
Như Lai xuất thế gian
Vì đời trừ si tối
Là đèn sáng thế gian
Hi hữu khó thấy được.
Đã tu thí, giới, nhẫn
Tinh tấn và thiền định
Bát nhã Ba la mật
Dùng đây chiếu thế gian.
Như Lai không ai bằng
Muốn sánh chẳng thể được
Chẳng rõ pháp chơn thiệt
Thời không thể thấy Phật
Thân Phật và thần thông
Tự tại khó nghĩ bàn
Không đi cũng không đến
Thuyết pháp độ chúng sanh.
Nếu ai được thấy nghe
Đấng đạo sư thanh tịnh
Thoát hẳn các ác đạo
Xa lìa tất cả khổ.
Vô lượng vô số kiếp
Tu tập hạnh bồ đề
Chẳng thể biết nghĩa này
Chẳng thể được thành Phật.
Bất khả tư nghị kiếp
Cúng dường vô lượng Phật
Nếu biết được nghĩa này
Công đức hơn công kia.
Cúng Phật với trân bửu
Đầy cả vô lượng cõi
Chẳng biết được nghĩa này
Trọn chẳng thành bồ đề.

Lúc đó Thắng Lâm Bồ tát thừa oai lực của Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ví như tháng mạnh hạ
Tạnh ráo không mây mù
Mặt trời phóng quang huy
thập phương đều sáng chói.
Quang minh không hạn lượng
Không ai lường biết được
Người mắt sáng còn vậy
Huống là kẻ mù lòa.
Chư Phật cũng như vậy
Công đức vô biên tế
Bất khả tư nghị kiếp
Chẳng thể phân biệt biết.
Các pháp không lai xứ
Cũng không có tác giả
Cũng không từ đâu sanh
Chẳng thể phân biệt được.
Tất cả pháp không đến
Vì thế nên không sanh
Vì đã không có sanh
Nên cũng không có diệt.
Tất cả pháp vô sanh
Tất cả pháp vô diệt
Nếu biết được như vậy
Người này thấy được Phật.
Vì các pháp vô sanh
Nên không có tự tánh
Phân biệt biết như vậy
Người này đạt thâm nghĩa.
Do vì pháp vô tánh
Không thể rõ biết được
Nơi pháp hiểu như vậy
Rốt ráo không chỗ hiểu.
Nói rằng có sanh đó
Bởi hiện các quốc độ
Biết được tánh quốc độ
Thời tâm không mê hoặc.
Tánh quốc độ thế gian
Quan sát đều như thật
Nếu nơi đây biết được
Khéo nói tất cả nghĩa.

Vô Úy Lâm Bồ tát thừa oai lực của Đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Thân Như Lai rộng lớn
Rốt ráo nơi Pháp giới
Chẳng rời bửu tòa này
Mà khắp tất cả chỗ.
Nếu ai nghe pháp này
Mà cung kính tin ưa
Rời hẳn ba ác đạo
Tất cả những khổ nạn.
Giả sử như có người
Qua vô lượng thế giới
Chuyên tâm muốn được nghe
Sức tự tại của Phật,
Những phật pháp như vậy
Là vô thượng bồ đề
Giả sử muốn tạm nghe
Không ai có thể được.
Nếu ai thời quá khứ
Tin phật pháp như vậy
Đã thành Lưỡng Túc Tôn
Làm đèn sáng thế gian.
Nếu ai sẽ được nghe
Sức tự tại của Phật
Nghe rồi có lòng tin
Người này sẽ thành Phật.
Nếu có người hiện tại
Tin được phật pháp này
Cũng sẽ thành chánh giác
Thuyết pháp vô sở úy.
Vô lượng vô số kiếp
Pháp này rất khó gặp
Nếu có người được nghe
Là do bổn nguyện lực.
Nếu ai thọ trì được
Những phật pháp như vậy
Trì xong rộng tuyên thuyết
Người này sẽ thành Phật.
Huống là siêng tinh tấn
Lòng kiên cố chẳng bỏ
Nên biết người như vậy
Quyết định thành bồ đề.

Lúc đó Tàm Quý Lâm Bồ tát, thừa oai lực của Đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Nếu ai được nghe pháp
Hi hữu tự tại này
Sanh được lòng hoan hỷ
Chóng trừ lưới si lầm.
Bực thấy biết tất cả
Tự nói lời như vầy
Phật không gì chẳng biết
Vì thế khó nghĩ bàn.
Không có từ vô trí
Mà sanh ra trí huệ,
Thế gian thường tối tăm
Nên không thể sanh được.
Như sắc và phi sắc
Hai đây chẳng là một
Trí vô trí cũng vậy
Thể nó đều sai biệt.
Như tướng cùng vô tướng
Sanh tử với Niết bàn
Phân biệt đều chẳng đồng
Trí, vô trí cũng vậy.
Thế giới mới thành lập
Không có tướng bại hoại
Trí, vô trí cũng vậy
Hai thứ chẳng đồng thời.
Như Bồ tát sơ tâm
Chẳng chung với hậu tâm
Trí, vô trí cũng vậy
Hai tâm chẳng đồng thời.
Ví như những thức thân
Đều riêng không hòa hiệp
Trí, vô trí cũng vậy
Rốt ráo không hòa hiệp.
Như thuốc a già đà
Hay diệt tất cả độc
Có trí cũng như vậy
Hay diệt sự vô trí.
Như Lai không ai trên
Cũng không ai sánh bằng
Tất cả không so được
Thế nên khó gặp gỡ.

Tinh Tấn Lâm Bồ tát,thừa oai lực của Đức Phật,quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Các pháp vô sai biệt
Không ai biết được đó
Chỉ Phật cùng Phật biết
Vì trí huệ rốt ráo.
Như vàng và màu vàng
Tánh nó vô sai biệt
Pháp phi pháp cũng vậy
Thể tánh vốn chẳng khác
Chúng sanh phi chúng sanh
Hai đều không chơn thật
Như vậy các pháp tánh
Thật nghĩa đều chẳng có.
Ví như thời vị lai
Không có tưóng quá khứ
Các pháp cũng như vậy
Không có tất cả tướng.
Ví như tướng sanh diệt
Các thứ đều chẳng thiệt
Các pháp đều cũng vậy
Tự tánh vốn không có.
Niết bàn bất khả thủ
Thời gian nói có hai
Các pháp cũng như vậy
Phân biệt có sai khác.
Như nương vật bị đếm
Mà có cái hay đếm
Tánh kia vốn không có
Nên rõ pháp như vậy.
Ví như pháp toán số
Thêm một đến vô lượng
Phép đếm không thể tánh
Vì trí nên sai khác.
Ví như các thế gian
Kiếp hỏa có hư diệt
Hư không chẳng tổn hư
Phật trí cũng như vậy.
Như thập phương chúng sanh
Đều lấy tướng hư không,
Chư Phật cũng như vậy
Thế gian vọng phân biệt.

Lúc đó Lực Lâm Bồ tát thừa oai lực của Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Tất cả chúng sanh giới
Đều ở trong ba thời,
Những chúng sanh ba thời
Đều ở trong Ngũ ấm.
Nghiệp là gốc của uẩn
Tâm là gốc các nghiệp
Tâm đó dường như huyễn
Thế gian cũng như vậy.
Thế gian chẳng tự làm
Chẳng phải cái khác làm
Mà nó được có thành
Cũng lại được có hoại.
Thế gian dầu có thành
Thế gian dầu có hoại
Người rõ thấu thế gian
Chẳng nên nói hai việc.
Thế nào là thế gian
Thế nào phi thế gian
Thế gian phi thế gian
Chỉ là tên sai khác!
Tam thế và Ngũ ấm
Nói gọi là thế gian
Nói diệt là phi thế
Như vậy chỉ giả danh.
Sao gọi là các uẩn
Các uẩn có tánh gì
Tánh uẩn chẳng diệt được
Vì vậy nói vô sanh.
Phân biệt các uẩn này
Tánh nó vốn không tịch
Vì không, nên chẳng diệt
Đây là nghĩa vô sanh.
Chúng sanh đã như vậy
Chư Phật cũng như vậy
Phật và các phật pháp
Tự tánh vốn không có.
Biết được các pháp này
Như thật không điên đảo.
Người thấy biết tất cả
Thường thấy ở nơi trước.

Hạnh Lâm Bồ tát thừa oai lực của Đức Phật quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ví như mười phương cõi
Tất cả những địa chủng
Tự tánh vốn không có
Không chỗ nào chẳng khắp.
Thân Phật cũng như vậy
Cùng khắp các thế giới
Những sắc tướng sai khác
Không dừng, không chỗ đến.
Chỉ do vì các nghiệp
Nói tên là chúng sanh
Cũng chẳng lìa chúng sanh
Mà có được các nghiệp.
Nghiệp tánh vốn không tịch
Chúng sanh chỗ y chỉ
Khắp làm các hình sắc
Cũng lại không chỗ đến.
Những hình sắc như vậy
Nghiệp lực khó nghĩ bàn
Liễu đạt căn bổn kia
Nơi trong, không chỗ thấy.
Thân Phật cũng như vậy
Chẳng thể nghĩ bàn được
Những sắc tướng sai khác
Hiện khắp mười phương cõi
Thân chẳng phải là Phật
Phật cũng chẳng phải thân
Chỉ lấy pháp làm thân
Thông đạt tất cả pháp.
Nếu thấy được thân Phật
Thanh tịnh như pháp tánh
Với tất cả phật pháp
Người này không nghi lầm.
Nếu thấy tất cả pháp
Bổn tánh như Niết bàn
Đây thời thấy Như Lai
Rốt ráo vô sở trụ.
Nếu tu tập chánh niệm
Sáng tỏ thấy chánh giác
Vô tướng, vô phân biệt
Đây gọi Pháp vương tử.

Lúc đó Giác Lâm Bồ tát thừa oai lực của Đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Ví như họa sư kia
Phân bố những màu sắc
Hư vọng lấy dị tướng
Đại chủng không sai khác.
Trong đại chủng không sắc
Trong sắc không đại chủng
Cũng chẳng ngoài đại chủng
Mà có được màu sắc.
Trong tâm, không màu vẽ
Trong màu vẽ, không tâm
Nhưng chẳng rời nơi tâm
Mà có được màu vẽ.
Tâm đó luôn chẳng trụ
Vô lượng khó nghĩ bàn
Thị hiện tất cả sắc
Đều riêng chẳng biết nhau.
Ví như nhà họa sư
Chẳng biết được tự tâm
Mà do tâm nên vẽ
Các pháp tánh như vậy.
Tâm như nhà họa sư
Hay vẽ những thế gian
Ngũ ấm từ tâm sanh
Không pháp gì chẳng tạo.
Như tâm, Phật cũng như vậy
Như Phật, chúng sanh đồng
Phải biết Phật cùng tâm
Thể tánh đều vô tận.
Nếu người biết tâm hành
Bảo khắp các thế gian
Người này thời thấy Phật
Rõ Phật chơn thật tánh.
Tâm chẳng trụ nơi thân
Thân chẳng trụ nơi tâm
Mà làm được phật sự
Tự tại chưa từng có.
Nếu người muốn rõ biết
Tất cả Phật ba đời
Phải quán Pháp giới tánh
Tất cả duy tâm tạo.

Trí Lâm Bồ tát thừa oai lực của Đức Phật, quan sát mười phương rồi nói kệ rằng:

Sở thủ chẳng thể lấy
Sở kiến chẳng thể thấy
Sở văn chẳng thể nghe
Nhứt tâm bất tư nghị.
Hữu lượng và vô lượng
Cả hai chẳng thể lấy
Nếu có ai muốn lấy
Rốt ráo chẳng thể được.
Chẳng nên nói mà nói
Đây là tự khi dối
Việc mình chẳng thành tựu
Chẳng khiến chúng vui mừng.
Có người muốn khen Phật
Vô biên diệu sắc thân
Tận cả vô số kiếp
Không kể thuật hết được.
Vì như châu như ý
Hay hiện tất cả màu
Không màu mà hiện màu
Chư Phật cũng như vậy.
Lại như hư không sạch
Phi sắc, chẳng thấy được
Dầu hiện tất cả sắc
Không ai thấy hư không.
Chư Phật cũng như vậy
Hiện khắp vô lượng sắc
Chẳng phải cảnh của tâm
Tất cả chẳng thấy được.
Dầu nghe tiếng Như Lai
Âm thinh chẳng phải Phật
Cũng chẳng ngoài âm thinh
Biết được đấng Chánh Giác.
Bồ đề không lai khứ
Lìa tất cả phân biệt
Thế nào ở trong đó
Tự nói là thấy được.
Chư Phật không có pháp
Phật chỗ nào có nói,
Chỉ theo tự tâm chúng
Cho rằng Phật nói pháp.

Cùng tác giả Thích Ca Mâu Ni Phật


  1. Tương ưng Nhân duyên - Nidāna-saṃyutta (Trình bày hệ thống duyên khởi: các pháp sinh khởi do điều kiện)
  2. Chương tám pháp - Aṭṭhakanipāta (Theo tám pháp, thường là các nhóm tám điểm cần thực hành để đem lại lợi ích hiện tại và lâu dài. Vấn đề quan trọng: đạo lộ có cấu trúc—các yếu tố phối hợp, tránh hiểu tu tập như các mảnh rời)
  3. Kinh Trạm xe - Rathavinìta sutta (Dụ "trạm xe/xe chuyển trạm" để minh họa các tầng thanh tịnh như những chặng chuyển tiếp hướng về cứu cánh Niết-bàn)
  4. Kinh Devadaha - Devadaha sutta (Đối thoại với Nigaṇṭha về khổ hạnh cực đoan và thuyết )
  5. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 12: Hiền Thủ (Ca ngợi người tu hành tinh tấn, vững chãi như núi)
  6. Kinh Hàng ma - Màratajjanìya sutta (Thuật chuyện Mục-kiền-liên quở trách Ma quấy nhiễu và nêu bài học về tinh tấn, chánh niệm trước chướng ngại nội–ngoại duyên)
  7. Kinh Thiên sứ - Devadùta sutta (Nêu "thiên sứ" như già–bệnh–chết và các cảnh tỉnh khác; dùng hình tượng Diêm vương/địa ngục để nhấn mạnh trách nhiệm đạo đức và tinh thần không phóng dật)
  8. Tương ưng Vô thủy - Anamatagga-saṃyutta (Nhấn mạnh luân hồi vô thủy và tính cấp thiết của giải thoát)
  9. Kinh Bàhitika - Bàhitika sutta (Nêu các hạnh đáng tán thán qua thân–khẩu–ý; đặt tiêu chí đánh giá trên thiện hạnh và tâm ý, không trên địa vị hay sở hữu)
  10. Tương ưng Rādha - Rādha-saṃyutta (Đối thoại với Rādha, nhấn điểm then chốt cần hiểu đúng để tiến tu)
  11. Kinh Phật Tự Thuyết - Udàna (Gồm các đoạn kinh ngắn có bối cảnh tự sự; mỗi đoạn thường kết thúc bằng một "cảm hứng ngôn" (udāna) dưới dạng kệ. Chủ đề trải rộng, thường chạm tới các vấn đề như vô thường, tham ái, và những phát biểu về Niết-bàn trong văn cảnh cụ thể)
  12. Kinh Đại duyên - Mahànidàna sutta (Pháp Duyên-Khởi)
  13. Kinh Điều ngự địa - Dantabhùmi sutta (Dụ huấn luyện voi/ngựa để trình bày "giáo pháp tiệm tiến": điều phục thô (thân–khẩu, hộ trì căn) rồi vào thiền định và tuệ giải thoát; chưa qua từng bước khó hiểu cứu cánh)
  14. Tiểu kinh Pháp hành - Cùladhammasamàdàna sutta (Phân loại bốn kiểu thọ trì pháp theo cảm thọ hiện tại (khổ/lạc) và quả báo tương lai (khổ/lạc), nhấn mạnh tiêu chuẩn lợi ích lâu dài)
  15. Kinh Càtumà - Càtumà sutta (Xử lý nhóm tân tỳ-kheo ồn ào; dạy về nguy hiểm/chướng nạn của người mới xuất gia và điều kiện an trú phạm hạnh)
  16. Đại kinh Giáo giới La-hầu-la - Mahà Ràhulovàda sutta (Quán bốn đại và rèn tâm buông xả; triển khai thiền quán (gồm hơi thở) để lắng dịu tâm và đoạn trừ chấp thủ)
  17. Chương năm pháp - Pañcakanipāta (Theo năm pháp, xoay quanh các nhóm quan trọng cho tu tập và đời sống. Vấn đề quan trọng: tính "thực dụng" của pháp số—nhiều nhóm năm như checklist tự kiểm, phòng hộ, điều chỉnh hành vi)
  18. Kinh Không uế nhiễm - Anangana sutta (Phân loại các hạng người có/không có )
  19. Kinh Sợ hãi khiếp đảm - Bhayabherava sutta (Trình bày các điều kiện vượt sợ hãi trong đời sống viễn ly (giới thanh tịnh, tinh tấn, nhiếp phục tâm) và kể lại kinh nghiệm tu hành trước giác ngộ)
  20. Kinh Kevaddha (Kiên Cố) - Kevaddha sutta (Ba loại Thần-thông, thắc-mắc về tứ-đại)
  21. Chương ba pháp - Tikanipāta (Hệ thống theo bộ ba (ba pháp), thường gặp như ba nghiệp, ba căn bất thiện, ba học, hoặc các nhóm ba điều kiện/ba loại hành xử. Vấn đề quan trọng: nhiều giáo lý vận hành theo "tam phần", giúp thấy đạo lộ có cấu trúc thay vì rời rạc)
  22. Đại kinh Pháp hành - Mahàdhammasamàdàna sutta (Triển khai rộng chủ đề thọ trì pháp, giải thích kỹ hơn bốn cách thọ trì và đưa ví dụ, nhấn mạnh lựa chọn con đường đem lại an lạc bền vững)
  23. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 22: Vô Tận Tạng (Mười kho tàng công đức vô tận)
  24. Đại kinh Vaccaghotta - Mahàvacchagotta sutta (Nêu các mức độ chứng đắc trong hàng đệ tử (xuất gia và tại gia), khẳng định giáo pháp có thể thực chứng; Vaccha quy y và xin xuất gia)
  25. Kinh thừa tự Pháp - Dhammadàyàda sutta (Đức Phật muốn các Tỷ Kheo thiểu dục, hướng đến tinh cần, tinh tấn, thành tựu pháp bậc Thánh)
  26. Kinh Tổng thuyết và Biệt thuyết - Uddesavibhanga sutta (Minh họa mô thức truyền thừa "tóm tắt → khai triển": một tổng thuyết ngắn được biệt thuyết chi tiết để làm rõ ý nghĩa thực hành; khuyến nối nguyên tắc khái quát với thao tác quán sát cụ thể)
  27. Kinh An trú tầm - Vtakkasanthàna sutta (Năm phương pháp nhiếp phục tầm bất thiện (đổi đề mục, quán nguy hiểm, không tác ý, điều phục thân tâm, dùng ý chí khi cần).)
  28. Kinh Hành sanh - Sankhàrupapatti sutta (Nêu mối liên hệ giữa nghiệp (tư tác), định và ý hướng tái sinh; có thể dẫn đến cảnh giới tương ứng nhưng cảnh báo không chấp thủ mục tiêu hữu vi, chí hướng tối hậu vẫn là giải thoát)
  29. Tương ưng Sanh - Uppāda-saṃyutta (Về sự sinh khởi (uppāda) của các pháp và hệ quả đối với tuệ quán)
  30. Kinh Thập thượng - Dasuttara sutta (100 pháp xếp ra 10 loại với tiêu-chuẩn Thập Thượng)
  31. Kinh Ưu-đàm-bà-la sư tử hống - Udumbarikà-Sìhanàda sutta (Tà-giáo chẳng biết nghe lời giảng-dạy như sư-tử rống của đức Phật)
  32. Tương ưng Thí dụ - Opamma-saṃyutta (Làm rõ giáo lý qua các thí dụ/ẩn dụ để nhấn mạnh ý nghĩa thực hành)
  33. Kinh Nói cho dân Nagaravinda - Nagaravindeyya sutta (Dạy dân chúng tiêu chuẩn đánh giá Sa-môn/Bà-la-môn bằng chánh hạnh: ai tham–sân–dối trá–kiêu mạn thì không đáng tôn; ai ly tham, chánh trực, nhu hòa thì đáng nương tựa)
  34. Kinh Jìvak - Jìvaka sutta (Nêu nguyên tắc "tam tịnh nhục" và trọng tâm bất hại: vấn đề thọ dụng được xét theo ý nghiệp và duyên khởi sát hại)
  35. Bộ Kinh Nikaya - Nikāya (Thuộc Kinh tạng Pāli, là một tập hợp nhiều nhiều bài kinh, bộ kinh khác.)
  36. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 10: Bồ Tát Vấn Minh (Bồ tát hỏi về pháp môn ánh sáng trí tuệ)
  37. Kinh Ước nguyện - Akankheyya sutta (Ước nguyện đúng pháp)
  38. Đại kinh Mãn nguyệt - Mahàpunnama sutta (Giảng sâu về ngũ uẩn/thủ uẩn: vô minh dẫn đến chấp thủ; quán vô thường–khổ–vô ngã đưa đến yếm ly, ly tham và giải thoát)
  39. Kinh Tất cả các lậu hoặc - Sabbàsava sutta (Các phương pháp đoạn trừ lậu hoặc: như lý tác ý, phòng hộ căn, thọ dụng đúng pháp, kham nhẫn, tránh né, đoạn trừ và tu tập)
  40. Kinh Jàliya - Jàliya sutta (Phá chấp mạng căn và thân thể)
  41. Kinh Giáo giới Channa - Channovàda sutta (Giáo giới tỳ-kheo Channa trọng bệnh bằng quán vô thường–khổ–vô ngã và không chấp thủ ngũ uẩn/kiến chấp; nhấn mạnh "không chấp thủ" như điểm tựa cuối cùng khi thân tâm suy sụp)
  42. Tương ưng Phạm thiên - Brahmā-saṃyutta (Các bài liên hệ Phạm thiên (Brahmā), nêu bối cảnh và đối thoại giáo lý)
  43. Tương ưng Thần mây - Valāhaka-saṃyutta (Nhóm bài liên hệ "thần mây" (valāhaka), thường làm bối cảnh kể/giảng pháp)
  44. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 26: Thập Địa (Mười giai đoạn tiến tu của Bồ tát)
  45. Tương ưng Đạo - Magga-saṃyutta (Trọng tâm về con đường tu tập (đặc biệt Bát chánh đạo) và cách triển khai đạo lộ trong thực hành)
  46. Kinh Nalakapàna - Nalakapàna sutta (Nêu nguyên tắc hành trì tại trú xứ rừng; nhấn mạnh tiết độ, chánh niệm và thanh lọc tâm để tăng trưởng định–tuệ)
  47. Kinh Ví dụ cái cưa - Kakacùpama sutta (Răn dạy nhẫn nhục trước xúc phạm và bạo lực, dùng ví dụ "dù bị cưa xẻ" vẫn không khởi sân và khuyến tu tâm từ)
  48. Kinh Hoa Nghiêm phẩm 37: Như Lai Xuất Hiện (Sự xuất hiện của Phật để hóa độ chúng sinh)
  49. Tương ưng Phiền não - Kilesa-saṃyutta (Nhận diện và đối trị phiền não (kilesa), nhấn yếu tố đoạn trừ và chuyển hóa)
  50. Tương ưng Nữ nhân - Mātugāma-saṃyutta (Các bài liên hệ nữ nhân/nữ giới trong đời sống và tu học, thiên về khuyến giới/định hướng)

Xem
tất cả tác phẩm

Hướng dẫn tìm kiếm:
  • Nhập trực tiếp chữ Hán, hoặc chữ Latinh
  • Nhấn vào chữ "V" hoặc "P".
  • Chữ "V" tìm kiếm từ âm Hán Việt.
  • Chữ "P" tìm kiếm từ Pinyin.
  • Các nút: 一 丨 ノ 丶 フ dùng để tìm chữ qua nét bút.
  • Hoặc dùng: Vẽ chữ rồi tìm
  • Tải app từ điển này:
  • App dành cho điện thoại Android: Tải về

NỘI DUNG CHÍNH

hvdic.thaiphong.net

Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:

TRA CỨU

CÔNG CỤ

KHÁC

Xem thêm:

[ ]

739C, tổng 8 nét, bộ ngọc 玉 (+4 nét)

Xem thêm:

đản [ dàn ]

8711, tổng 12 nét, bộ trùng 虫 (+6 nét)

Nghĩa: một tộc Mán ở phương Nam (Trung Quốc)

Quảng Cáo

tháo lắp tủ