
Bài Thơ
渡淮有感文丞將
(Qua sông Hoài nhớ Văn thừa tướng)
Tác giả: Nguyễn Du
Thuộc bộ: , Bắc hành tạp lục,
Ngôn ngữ: Hán
Việt Nam
Thời kỳ: Nguyễn
Chánh văn:
山河風景尚依然,
丞相孤忠萬古傳。
一渡淮河非故宇,
重來江左更何年?
哀衷觸處鳴金石,
怨血歸時化杜鵑。
南北只今無異俗,
夕陽無限往來船。
Dịch âm
Sơn hà phong cảnh thượng y nhiên,
Thừa tướng cô trung vạn cổ truyền.
Nhất độ Hoài Hà phi cố vũ,
Trùng lai Giang Tả cánh hà niên?
Ai trung xúc xứ minh kim thạch,
Oán huyết quy thời hoá đỗ quyên.
Nam bắc chỉ kim vô dị tục,
Tịch dương vô hạn vãng lai thuyền.
Dịch nghĩa:
Non sông ngày trước cảnh còn y,
Một phiến trung hồn muôn thuở ghi.
Qua khỏi Hoài Hà đành hết đất,
Trở về Giang Tả những chờ khi.
Lòng thơm chạm trổ lời kim thạch,
Máu hận trào sôi kiếp tử qui.
Phong tục Bắc Nam rày chẳng khác,
Ghe thuyền lai vãng nhộn tà huy
Bản dịch của Quách Tấn.
Văn thừa tướng: tức Văn Thiên Tường 文天祥 (1236-1282), hiệu Văn Sơn 文山, làm thừa tướng nhà Nam Tống. Khi quân Nguyên vượt sông Hoài đánh xuống nam, Thiên Tường khởi binh chống cự, được phong là hữu thừa tướng. Quân Tống thua, nhà Tống mất. Văn Thiên Tường bị bắt giam ở Yên Kinh 4 năm, không chịu khuất phục nên bị giết, mới 47 tuổi. Văn Thiên Tường có tập thơ nhan đề là Chỉ nam lục 指南錄 và Chỉ nam hậu lục 指南後錄, tả những cảnh ngộ đã trải qua khi chạy nạn, lời văn bi thiết. Bài Chính khí ca của ông khẳng khái, lẫm liệt được nhiều người truyền tụng.
Độ Hoài: sông Hoài thuộc phần đất hai tỉnh An Huy, Giang Tô. Khi nước Tống bị người Kim đánh bại, phải cắt đất để cầu hoà, lấy sông Hoài làm ranh giới. Từ sông Hoài trở lên bắc thuộc về Kim, từ sông trở xuống nam thuộc về nhà Tống. Từ ấy nhà Tống gọi là Nam Tống, còn gọi là miền Giang Tả vì ở tả ngạn sông Hoài.
Các nội dung nhắc tới bài thơ:
Kim Lăng dịch kỳ 1 (Văn Thiên Tường)
Những nội dung căn bản nhất của website bạn có thể truy vấn:
TRA CỨU
(trang chủ)
CÔNG CỤ
KHÁC
Xem thêm Tác Phẩm Hán Nôm:
Tam Giang khẩu đường dạ bạc - (三江口塘夜泊) | Nguyễn DuXem thêm Tác Phẩm Hán Nôm:
My trung mạn hứng (縻中漫興) | Nguyễn DuXem thêm Tác Phẩm Hán Nôm:
Ngẫu đắc - (偶得) | Nguyễn Du